Hai con người – Một lối đi

Suy ngắm cuộc đời của Hai Đức Cha, con thầm tạ ơn Chúa vì chúng con được làm con cái các ngài. Hội dòng chúng con mang ơn các ngài.


Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày Đức Cha Allys và Đức Cha Chabanon về trời, suy gẫm về cuộc đời của các ngài, con nhận ra nơi các ngài tuy hai nhưng chỉ là một. Hai con người được sinh ra trong hai gia đình khác nhau, hai tính cách khác nhau nhưng các ngài đã chọn một lối đi và chính lối đi ấy các ngài đã gặp nhau và làm nên điều kỳ diệu.

HAI CON NGƯỜI

  • Đức Cha Eugène Marie Joseph Allys

Đức Cha Eugène Marie Joshep Allys, sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng rất đạo đức, gia đình ngài có 8 người con, trong số đó có 2 linh mục và 1 nữ tu. Ngài vào Đại chủng viện Giáo phận Rennes một thời gian ngắn, sau đó được chuyển sang Đại Chủng viện Thừa Sai Paris ngày 27/07/1872 để theo ơn gọi ra đi đến vùng truyền giáo.

Qua tiểu sử chúng ta thấy được Đức Cha là người luôn vui vẻ lạc quan, yêu mến mọi người. Cửa nhà ngài luôn rộng mở để đón gặp mọi hạng người không phân biệt giàu nghèo. Ngài là người khiêm tốn, bác ái và yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và các linh hồn cách đặc biệt. Ngài còn là một vị tông đồ nhiệt thành, luôn quan tâm đến việc làm cho lương dân trở lại. Ngài dùng mọi phương tiện để rao giảng Tin Mừng, vì ngài yêu mến và muốn mọi người được cứu rỗi. Ngọn lửa yêu mến đã nung đốt tâm hồn và thúc đẩy ngài hành động. Ngài đã hiến thân phục vụ Chúa như một tôi tớ trung thành trên mãnh đất Việt Nam thân yêu.

Đức cha đã tận tuỵ dấn thân cho vùng đất nghèo Việt Nam đến hơi thở cuối cùng không một lần trở về quê hương. Ngài dành trọn cả cuộc đời và tình yêu thương cho quê hương Việt Nam, cách riêng cho Tổng giáo phận Huế.

  • Đức Cha Alexandre Paul Marie Chabanon

Đức Cha Alexandre Paul Marie Chabanon sinh ra tại một ngôi làng nhỏ ở vùng Mendes, nước Pháp, trong một gia đình nông dân cần cù, chăm chỉ. Ngay từ nhỏ, Đức cha đã được thừa hưởng nhiều đức tính cao đẹp từ mẹ. Là cậu bé trầm tĩnh, khôn ngoan, có lòng đạo đức sâu sắc. Khi lên 11 tuổi, ngài được gia nhập Tiểu Chủng viện. Năm 14 tuổi, vào Đại chủng viện Mendes và sau đó hai năm, ngài gia nhập Hội thừa sai Hải ngoại Paris. Ở đây, Chabanon là một học sinh gương mẫu, đạo đức, chăm chỉ học hành, sống thánh thiện và được mọi người yêu mến.

Đức Cha Chabanon được ca ngợi là một con người đa năng, uyên thâm về học vấn đặc biệt trong lãnh vực văn chương, thần học và giáo luật. Là người ngoại quốc nhưng ngài lại thông thạo tiếng Việt, thuộc lòng truyện Kiều, Bộ Luật Tiên khởi của Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm và các thư luân lưu gửi cho linh mục, giáo dân đều được viết bằng tiếng Việt. Thế nhưng, ngược lại với những gì người đời ca ngợi thì ngài lại chọn lối sống “Yêu thích ẩn dật và kể mình bằng không”. Ngài là một người “trang nghiêm đứng đắn, ít nói hay đúng hơn là dè dặt trong lời nói. Ngài rất cẩn mật và thuộc dạng “trầm tư mặc tưởng”. Ngài yêu mến đời sống cầu nguyện, sống khiêm tốn, từ bỏ, khổ chế.

Đức Cha Chabanon là một vị tông đồ đầy nhiệt huyết. Ngài đã sống trọn ơn gọi của một người thừa sai với lòng nhiệt tâm lo cho giáo dân và đào tạo các chủng sinh về mọi mặt, can đảm đối diện với những thử thách nơi mãnh đất truyền giáo nghèo nàn, đói khổ, lạc hậu. Đức Cha đã kết thúc hành trình 40 năm truyền giáo tại Việt Nam và ra đi trở về quê hương, trở về nhà Cha trong âm thầm, lặng lẽ như chính cuộc đời của ngài.

MỘT LỐI ĐI

Lối đi mà Hai Đức cha đã chọn đó chính là trở thành nhà thừa sai tại vùng đất Việt Nam. Cả hai vị linh mục trẻ đã chọn con đường dấn thân cho công cuộc truyền giáo tại Việt Nam lúc mới 23 tuổi.

  • Cùng là Giám mục Giáo phận Huế

Điều đặc biệt nơi hai nhà truyền giáo này chính là cùng trở nên Giám mục giáo phận Huế.

Đức cha Allys được tấn phong Giám mục ngày 24.05.1908. Ngài được trao trọng trách dẫn dắt giáo phận và chính nhờ sự tận tuỵ của ngài, đã làm cho giáo phận bước vào một thời kỳ phát triển vượt trội. Ngài đã bảo trợ việc thiết lập Dòng Kín Carmel ở Huế (1909) và Đan viện Phước Sơn (1918). Ngài cũng mời Dòng Chúa Cứu Thế từ Canada đến Huế (1925) để cùng với ngài cộng tác trong công việc mục vụ. Thành lập Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm (1920), Dòng Sư Huynh Giáo giảng viên giáo lý Thánh Tâm (1925). Cũng trong thời đại của ngài, lần đầu tiên Giáo hội Việt Nam gửi sinh viên là các chủng sinh của Đại Chủng viện Phú Xuân qua Roma du học. Điều vui mừng cho giáo hội Việt Nam, cách riêng giáo phận Huế trong thời gian ngài coi sóc giáo phận, Toà Thánh thiết lập Toà Khâm Sứ Toà Thánh tại Đông Dương đặt trụ sở tại Phủ Cam.

Đức Cha Chabanon được bổ nhiệm làm giám mục phó với quyền kế vị đức Cha Allys. Lễ tấn phong ngày 28 tháng 10 năm 1930 do Đức Khâm Sứ Toà Thánh Dreyer chủ phong. Sau 36 năm phục vụ tại giáo phận Huế trong vai trò là Giám đốc Đại Chủng Viện Phú Xuân, Cha xứ, Hạt trưởng… ngài đã được chọn làm giám mục giáo phận.

Dưới thời của Đức cha Chabanon, Dòng Phước Sơn được thừa nhận vào cộng đồng Xitô. Trường tư thục Thiên Hữu được thành lập nhằm đào tạo nhiều sinh viên ưu tú trong cả nước và cả vùng Đông Dương. Ngài đã xây cất Toà Giám mục giáo phận và được sử dụng cho đến hôm nay.

Cả hai Đức Cha đều được bước đi trên một con đường đó là làm Giám mục Giáo phận Huế. Chắc chắn sự hy sinh tận tuỵ của các ngài đã làm cho giáo phận Huế thời bấy giờ có những chuyển biến rõ rệt về đời sống đức tin, văn hoá cũng như đời sống xã hội.

  • Dấn thân cho vùng đất truyền giáo Việt Nam cho đến hơi thở cuối cùng

Không hẹn mà gặp. Hai đức cha dù ở hai vùng quê khác nhau, hai thời điểm khác nhau nhưng đã chọn vùng đất Việt Nam, đặc biệt là Huế để làm điểm đến trong bước đường truyền giáo. Đến với Huế, vùng đất nghèo nàn lạc hậu nhưng lòng hăng say rao giảng Tin Mừng đã làm cho các ngài vượt lên trên tất cả. Một lần ra đi và không bao giờ trở lại.

Đức Cha Allys được Thánh Bộ Truyền Bá đức tin xác nhận trong lá thư gửi từ Roma ngày 29.4.1933: “Quả thực không người nào mà không biết Đức Cha đã miệt mài trong công việc tông đồ với lòng nhiệt thành và hăng say thế nào… Đức Cha Allys đã dành trọn tình yêu và dốc hết tâm huyết cho công cuộc Loan báo Tin mừng mà không màng nguy hiểm, không màng đến sức khoẻ. Ngài can đảm đương đầu với sự bắt đạo gay gắt thời Văn Thân để ở bên đoàn chiên của mình. Dù trong điều kiện thuận lợi cũng như cấm bách, ngài vẫn ra sức tìm cơ hội để truyền giáo, nhờ đó một công chúa vua Minh Mạng đã trở lại đạo công giáo. Sau đó hai hoàng tử khác cũng theo đạo.

Đức cha Chabanon cũng bước đi trên con đường mà Đức cha Allys đã đi. Ngài qua Việt Nam khi còn rất trẻ nhưng tình yêu Chúa Kitô đã thúc bách ngài dám can đảm chấp nhận mọi điều kiện thực tế của vùng đất An Nam. Suốt đời ngài tận tuỵ, nhiệt thành chăm lo cho công việc tông đồ. Dù mệt, ngài vẫn miệt mài chu toàn bổn phận của mình. Khi được yêu cầu trở về Pháp chữa bệnh, dù vâng lời nhưng ngài vẫn muốn ở lại Việt Nam nơi mảnh đất ngài đã gắn bó suốt 40 năm qua.

  • Khai sinh và dẫn dắt Hội dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm

Đức Cha Allys với tầm nhìn bao quát và lòng chạnh thương của người Mục tử đối với các trẻ em nghèo không được học giáo lý và văn hoá nên ngài đã lập Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm để giáo dục giới trẻ và thanh thiếu nữ. Với trách nhiệm cai quản giáo phận, Đức Cha không có nhiều thời gian để dạy dỗ hướng dẫn Hội dòng thời kỳ đầu nên đã đặt Đức cha Chabanon lúc bấy giờ còn là linh mục – giám đốc Đại Chủng viện, Phú Xuân nhiệm vụ huấn luyện các nữ tu đầu tiên của Hội dòng. Ngài cũng mời các sơ dòng Phaolô đến để dạy dỗ văn hoá cho chị em. Với trách nhiệm được trao phó, Đức cha Chabanon “ngày ngày ngài vừa đóng vai trò là một người cha dạy dỗ, hướng dẫn đường tu đức, vừa đóng vai là một người mẹ chỉ bảo cách sắp đặt trong nhà. Nhờ sự chỉ dạy từng điều nhỏ nhặt, cũng như con đường tu đức đã giúp cho các chị thế hệ đầu tiên có một nền tảng vững chắc.

Hội dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm được như ngày hôm nay là công ơn lớn của Hai Đức Cha khả kính. Các ngài đã không hẹn mà gặp nhau nơi Hội dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm. Các ngài đã cưu mang, hướng dẫn, dạy dỗ và lo lắng cho chị em về mọi phương diện, nhờ đó hội dòng được tồn tại và lớn mạnh như ngày hôm nay.

Tạm kết

Câu châm ngôn của Hai Đức cha “tình yêu Chúa Kitô thúc bách”- “tôi yêu mến mọi người” là một sự trùng hợp hay phải chăng đó là do thánh ý Chúa nhiệm mầu đã sắp đặt để Hội dòng chúng con được khai sinh. Câu châm ngôn của Hai Đức Cha là con đường thiêng liêng mà mỗi chị em Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm nối bước theo các ngài. Chị em sống ơn gọi yêu mến nhờ tình yêu của Chúa Kitô thúc bách. Chỉ nhờ tình yêu của Chúa thôi thúc, chị em mới hăng hái lên đường chia sẻ niềm vui Tin Mừng cho mọi người.

Trong tâm tình hiếu thảo hướng về Hai Đức Cha kính yêu nhân dịp mừng 90 năm các ngài về trời, con suy gẫm về cuộc đời của Hai Đức Cha. Tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội Việt Nam, Giáo phận Huế và cách riêng Hội dòng chúng con. Không phải ngẫu nhiên mà Hai Đức Cha được gặp nhau, được cùng bước đi trên cùng một con đường và đảm nhận cùng sứ vụ. Con tin rằng tất cả trong chương trình của Thiên Chúa, Hai Đức Cha được sai đến với mảnh đất Việt này để niềm vui Tin Mừng được triển nở, để Hội dòng chúng con được khai sinh. Suy ngắm cuộc đời của Hai Đức Cha, con thầm tạ ơn Chúa vì chúng con được làm con cái các ngài. Hội dòng chúng con mang ơn các ngài. Là những người con được các ngài sinh ra và nuôi dưỡng, chúng con nguyện bước tiếp trên con đường các ngài đã đi và mong mỏi chúng con cũng bước đi trên con đường đó. Trên quê trời, xin Hai Đức Cha tiếp tục dẫn dắt Hội dòng chúng con, để ở đâu chúng con hiện diện thì niềm vui Tin Mừng cũng được biết đến như chính cuộc đời Hai Đức Cha đã sống.

Ter. Minh Nguyện, FMI