Đức Cha Allys- Mẫu gương sống đức tin
Cha sẵn sàng đón nhận những hy sinh, sự khó thường ngày thường gặp vì lòng mến Chúa và vì phần rỗi các linh hồn.
Hội dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm được khai sinh bởi sự thúc bách của Chúa Thánh Thần qua Đấng Sáng lập Eugène Marie Joseph Allys. Là một cố tây sống tại Việt Nam, cha đã diễn tả và minh chứng đức tin cách sống động bằng trọn cuộc sống của mình. Lối sống, lời nói, hành động, việc làm của cha đã giúp cho nhiều người khám phá về sự hiện diện của một Thiên Chúa yêu thương mà cha trung tín bước theo.
Sinh trưởng trong một gia đình đạo đức có tám người con tại giáo xứ Paimpont, giáo phận Rennes nước Pháp, cha Allys (12/2/1852) sớm được thừa hưởng nền giáo dục đức tin từ gia đình. Điều đó cũng đã giúp ươm mầm ơn gọi cho cha ngay từ lúc nhỏ. Sau quá trình tu tập tại chủng viện của Hội thừa sai Paris, ngày 10/10/1875, thầy Allys đã được thụ phong linh mục tại nhà nguyện Hội thừa sai Paris lúc 23 tuổi [1].
Chỉ hai tháng sau khi lãnh nhận tác vụ linh mục, ngày 16/12/1875, nghe được “cơn khát” của Thầy chí thánh (x. Ga 19,14), “vì vinh quang Thiên của Chúa và phần rỗi các linh hồn”[2], vị linh mục trẻ đã mạnh mẽ lên đường, chia tay nước Pháp văn minh và những người thân thuộc máu mủ để đến một miền đất ngài chưa bao giờ đặt chân đến. Cha đã vui vẻ dâng hiến tuổi xuân cũng như những tiện nghi vật chất, chịu đựng khí hậu khắc nghiệt và nhiều khó khăn khác để mang Tin Mừng Chúa đến cho vùng đất An Nam xa xôi, nhiều cấm cách, bắt bớ[3].
Bước theo chân Đức Kitô, với trái tim của người mục tử, cha Allys (Lý) đã nhạy bén, chạnh thương và mang trong mình nỗi ưu tư canh cánh bên lòng về lớp trẻ công giáo nhưng lại không được hưởng một nền giáo dục đức tin và văn hóa cần thiết thời bấy giờ[4]. Chính nỗi thao thức này đã thúc bách cha thành lập hai Hội dòng, một Dòng nam và một Dòng nữ[5] với mục đích loan báo Tin Mừng cho người ngoại đạo và thánh hóa các Kitô hữu[6], đặc biệt sứ mạng giáo dục đức tin cho lớp trẻ. Mặc dù chịu nhiều chống đối từ hàng linh mục về công việc này, nhưng khi nghe được lời mời gọi của Chúa, cha vẫn cương quyết thực thi ý định của mình.
Theo tiếng gọi: “Hãy nới rộng lều ngươi đang ở, căng các tấm bạt ra, đừng hẹp lòng hẹp dạ” (Is 54,2), “cha đón tiếp mọi hạng người, không phân biệt lương giáo. Cửa nhà cha luôn rộng mở để bất kì ai cũng đều có thể đến thăm, từ quan đại thần Việt – Pháp cho tới những người thường dân, giáo hữu và lương dân”[7]. Cha đón tiếp tất cả với nụ cười luôn nở trên môi. Vì thế, mọi người, nhất là người chưa biết Chúa thường gọi cha bằng cái tên thân thương nhưng lại nói lên được con người của cha: ông tiên bên đạo[8]. Ngay cả những ngày cuối đời trên giường bệnh, cha cũng để lại trong lòng mọi người hình ảnh của một vị mục tử mỉm cười: “ngài có nhân đức chịu khó rất lạ, nhiều lần trong mình mệt mỏi, mà trí nhớ điều nọ tưởng điều kia thì cực tâm thần, bởi lòng mến Chúa thương người, song mặt mũi cũng cứ tươi cười, khi ai đến viếng thăm thì chẳng hề từ chối”[9].
Suốt đời phục vụ, cha đã “mang vào mình mùi chiên”, noi gương Đức Giêsu, trở nên hạt lúa mì mục nát đi để rồi trổ sinh nhiều bông hạt và sự sống mới cho Giáo hội, Đức cha Lý cũng đã sống chết vì đàn chiên được trao phó. Biến cố Dương Sơn năm 1883, tại Thừa Thiên, khi nhóm Văn Thân mở một cuộc giết hại tàn sát giáo dân, có cả dân của giáo xứ Dương Sơn (lúc đó cha Allys đang làm cha sở ở đây), “trong suốt thời gian này, cha Allys đã thực hiện tác vụ của mình một cách hiệu quả: an ủi tinh thần của các tín hữu, nhờ đó mà họ đứng vững trong cơn thử thách”[10]. Như Đức Giêsu cho đến chết cũng không bỏ các môn đệ ở lại một mình (x. Ga 19,25-27). Khi tình hình trở nên nguy hiểm hơn, Đức cha Lộc đã gọi cha Lý về Tòa Giám mục để tị nạn nhưng cha Lý đã từ chối và xin ở lại để đồng lao cộng khổ với đàn chiên mà ngài trách nhiệm[11] mặc dù “đó là một chuỗi ngày lo âu cho các vị chủ chăn, không gì khủng khiếp cho bằng những đe dọa chết chóc cứ văng vẳng không ngừng và gieo rắc lo sợ giữa các tín hữu. Không gì làm tê liệt tinh thần bằng tình trạng vô định của ngày mai”[12].
Khi yêu mến Chúa Giêsu, những thiếu thốn, đau khổ đều trở nên ngọt ngào. Quả thật, cuộc đời của cha Lý đã chứng minh cho điều này cách rõ nét. Sự hy sinh của cha làm sáng lên sức mạnh của đức tin kiên vững vào Chúa. Nhờ vào việc gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể nên cha đã đón nhận những đau khổ, mang vào mình thập giá vì đoàn chiên và trở nên tấm bánh bẻ ra trao cho mọi người. Với một người đang hang say trên cánh đồng sứ vụ, bị mù hai mắt là một thử thách thật lớn lao. Chính cha Allys đã tự xét thấy: “Chúa nhân lành không thể nào gửi cho tôi một thánh giá nào lớn hơn nữa, xét theo tính khí của tôi”[13]. Trong cầu nguyện, Ngài dâng cho Chúa những hy sinh âm thầm: “điều quan trọng là cầu nguyện và chịu đau khổ”[14].
Ngài không chết vì tử đạo nhưng những hy sinh thầm lặng hằng ngày của cha là những cuộc “tử đạo trắng” tốt lành mà cha âm thầm dâng lên Thiên Chúa. Cha sẵn sàng đón nhận những hy sinh, sự khó thường ngày thường gặp vì lòng mến Chúa và vì phần rỗi các linh hồn. Ngài chỉ sợ khi còn sống đã không yêu phép Thánh Thể cho đủ và chưa hết tình cầu cho các linh hồn. Trong những thời điểm khó khăn nhất, lòng cậy trông và phó thác cho Thiên Chúa không hề suy giảm nơi ngài. Niềm tin tưởng đó được lặp đi lặp lại nhiều lần trong các lá thư của ngài. Ngài quan niệm: “Biến một biến cố thành một cơ hội bằng cách luôn tin tưởng vào Chúa Quan Phòng”[15]. Trong đau khổ, Đức cha vẫn luôn cười. Nụ cười đó không còn đơn thuần là những niềm vui bên ngoài của sự chóng qua nhưng là niềm vui của một tâm hồn bình an có Chúa, “niềm vui không làm theo ý riêng mình, niềm vui của lòng tin, niềm vui được hiến dâng cho Thiên Chúa điều quý giá nhất đối với mình”[16]
Cả cuộc đời phục vụ nhưng ngài luôn muốn tránh xa danh dự của thế gian, không thích được khen ngợi nhưng muốn được trở nên âm thầm như gương Đức Giesu. Sử Dòng ghi lại: “Đức cha là người rất khiêm nhượng khi sống và đến giờ gần chết cũng chẳng hề khoe mình đã làm được việc nọ việc kia”[17]. Chính Đức cha cũng nhắc nhở: “Đừng nói đến các việc mình làm, mình chẳng có công gì, ấy là ơn Chúa giúp, tôi chỉ có chút công là qua An Nam đặng 61 mà thôi, nên đừng nói và không nên nói các điều ấy”[18]. Chúa nhân lành đã dùng tay cha Allys để mang lại một sức sống mới cho Giáo hạt mà cha coi sóc, cách riêng là giáo xứ Phủ Cam. Sau những năm nỗ lực trong sứ vụ mục tử, từ con số 500 giáo dân lúc ngài đến nhậm xứ thì đến năm 1910, lúc ngài rời chức vụ, số giáo dân ở đây đã lên đến hơn 2.400 người và toàn Giáo hạt lên đến 11.000 người[19].
Vì tin vào lời hứa của Thầy Chí Thánh nên cha đã hiến trọn tuổi xuân cho gia đình thiêng liêng. Suốt 61 năm xa quê hương để “cắm lều” tại Việt Nam, với 28 năm làm giám mục giáo phân Huế (1908-1931), cha chưa một lần trở về quê cha đất tổ, chưa một lần được gặp lại những người thân yêu. Trong giây phút cuối đời của mình, những người ở cùng cha cũng đã cảm nhận một đức tin mãnh liệt từ cha khi nhìn cách cha phó dâng mạng sống trong tay Chúa[20]. Cha nhẹ nhàng trở về nhà Cha ngày 23 tháng 4 năm 1936, để lại trong lòng người ở lại nhiều nỗi thương nhớ. Lời cuối cùng vị mục tử nói với đàn chiên và cũng chính là châm ngôn sống của ngài: “Diligo omnes” (tôi thương mến mọi người). Vị tông đồ của Chúa đã sống và hiến thân cho tình yêu cho đến giây phút cuối đời. Chính đức tin vào Chúa đã giúp cho một cố tây sống hết mình, cống hiến hết sức cho một đất nước, những con người, những sứ mạng. Hạt giống mà cha gieo vãi đang sinh hoa kết quả dồi dào như lòng Thiên Chúa mong ước.
M. Anna Thảo Ly (Học viện SG), FMI
[1] X. Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, Tiểu sử Đấng Tổ Phụ, tr. 3.
[2] Thư 15/11/1929
[3] Với hiệp ước Qúy Mùi 1883, Việt Nam công nhận quyền bảo hộ của Pháp. Đây là nguyên cớ cho nhóm Văn Thân nổi lên với khẩu hiệu “Bình Tây sát Tả”. Điều này đã gây ra một cuộc chiến tàn khốc (từ 1883-1886), lấy đi bao sinh mạng của người công giáo. Lịch sử giáo phận ghi lại: “hơn 2/3 số nhà thờ của 150 họ đạo đã bị phá hủy với khoảng 10.500 tín hữu bị thiêu sống ngay trong nhà thờ và bị chém giết trên đường”. Nguồn: Lịch sử Giáo phận Huế, tr. 55
[4] DÒNG CON ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM, Tiểu sử hai Đấng Sáng lập, tr. 14
[5] Ngày 8.9.1920, Đức Cha Allys đã thành lập Dòng Con Đức Bà chẳng hề mắc tội tổ tông- tức Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm ngày nay chuyên lo giáo dục đức tin cho giới trẻ, đặc biệt là thanh thiếu nữ. Năm 1925, ngài lập thêm dòng Sư huynh giáo giảng viên giáo lý Thánh Tâm (Dòng Thánh Tâm Huế) nhằm giáo dục cho nam sinh.
[6] Thư ngày 21/11/1923
[7] DÒNG CON ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM, Tiểu sử hai Đấng Sáng lập, tr. 11-12
[8] Ibid, tr. 13
[9] DÒNG CON ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM, Sử liệu Dòng – những ngày sau hết của Đức cha Allys, tr. 291.
[10] DÒNG CON ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM, Tiểu sử hai Đấng Sáng lập, tr. 3
[11] X. Ibid, tr. 3
[12] Ibid, tr. 3
[13] DÒNG CON ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM, Tiểu sử Đấng tổ phụ, số 29.
[14] Ibid, tr. 29.
[15] Tông thư Patris Corde, số 5
[16] RANIERO CANTALAMESSA, sđd, tr. 160
[17] Đức Cha E.M.J. Allys, Đấng tổ phụ dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, tr. 56
[18] Ibid, tr. 56
[19] X. DÒNG CON ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM, Tiểu sử Hai đấng sáng lập, tr. 5
[20] X. Đức Cha E.M.J. Allys, Đấng tổ phụ dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, tr. 53
















