Tôi có cơ hội gặp Mẹ bảy lần trong gần hai năm. Những lần ấy để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, nhưng điều còn lại sâu đậm nhất không phải là những tấm hình, mà là một bài học về cách nhìn con người bằng ánh mắt của đức tin.

Sáng ngày 10.4.1994, tôi đi lễ với vợ tại Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài Gòn. Sau thánh lễ 9 giờ, tôi gặp linh mục Vương Đình Bích, người mà tôi vẫn gọi thân mật là anh Tư, vì trước đây tôi từng sống trong dòng Đức Mẹ Người Nghèo cùng anh. Anh Tư cho biết Mẹ Têrêsa Calcutta đang cần một căn nhà trong khu vực bình dân để làm cơ sở cho cộng đoàn của Mẹ. Tôi hỏi ngay: “Bây giờ liên lạc với Mẹ Têrêsa làm sao?”. Anh Tư tìm hiểu rồi cho biết Mẹ đang ở tạm tại một căn nhà dân trong khu vực đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 3 cũ.

Ông Trần Văn Soi.jpg (407 KB)
Tác giả Trần Văn Soi đưa Mẹ Têrêsa Calcutta đến thăm một cơ sở xã hội tại TPHCM ngày 14.4.1994

Sau đó, một nữ cán sự xã hội người New York, đang giúp Mẹ điều hành công việc, gọi điện hỏi có phải tôi là chủ một căn nhà ở Bình Thạnh không. Tôi xác nhận căn nhà do mẹ tôi để lại, và sẵn sàng hiến cho công việc của Mẹ. Căn nhà mái tôn, vách gỗ ở số 595/39 đường Tầm Vu, Bình Thạnh, cách nhà thờ Thanh Đa khoảng 70 mét. Người dân trong khu vực chung quanh lúc đó còn rất nghèo. Có những gia đình sống bằng nghề chài lưới, sinh hoạt trên ghe, không có nhà cửa. Mẹ tôi cũng thường giúp người nghèo ở đây.

Nghĩ rằng nếu Mẹ đang tìm một nơi giữa khu dân cư nghèo thì căn nhà ấy có lẽ phù hợp, tôi đến gặp Mẹ tại nơi đang tạm trú. Mẹ từ trên lầu bước xuống. Trước mắt tôi là một người phụ nữ nhỏ nhắn, mỉm cười với tôi khi giáp mặt. Mẹ nói tiếng Anh nhưng âm lượng nhỏ, nên người cán sự xã hội phải thông dịch. Điều tôi nhớ mãi là cách Mẹ nhìn người đối diện bằng ánh mắt trìu mến và cái bắt tay ấm áp. Nơi con người nhỏ bé ấy toát lên sự khiêm nhường lớn lao. Mẹ thường hơi cúi người, nhìn từ dưới lên, khiến tôi liên tưởng đến cung cách của người Nhật khi hạ thấp mình trước người đối diện. Đó không phải là sự thấp bé về thân thể, mà là một tư thế rất khiêm nhường.

Vợ chồng tôi đưa Mẹ, cùng nữ tu Nirmala Joshi – người sau này thay Mẹ làm Bề trên Tổng quyền – và đoàn đến căn nhà ở Thanh Đa. Khi biết căn nhà nằm trong khu lao động, gần nhà thờ Thanh Đa, lại có nhiều người nghèo, những hộ dân sống trên ghe và những người cần được giúp đỡ, Mẹ rất vui. Ngoài việc xem căn nhà, Mẹ còn đi thăm những người phụ nữ đang được tôi cưu mang, khoảng 5-7 người đang mang thai ngoài ý muốn, có hoàn cảnh khó khăn, ở trong nhà tạm lánh. Mẹ đã thăm từng người, nắm tay, vỗ vai như một cách ủi an. Những cử chỉ ấy rất đơn sơ. Mẹ không nói nhiều, nhưng tôi cảm nhận được sự ân cần và quan tâm dành cho từng người.

Từ đó, tôi còn gặp Mẹ thêm vài lần nữa, cho đến khi Mẹ không còn trở lại Việt Nam. Có những lần tôi đến 38 Tú Xương, nơi Mẹ ở sau này. Mỗi khi tôi đến, điều đầu tiên Mẹ làm không phải là bàn chuyện căn nhà, hay công việc xã hội, mà là mời tôi vào nguyện đường cùng viếng Thánh Thể khoảng 5-7 phút. Lần nào cũng vậy. Dần dần, tôi hiểu rằng trung tâm đời sống phục vụ của Mẹ chính là Thánh Thể. Mẹ gắn bó sâu sắc với Giáo hội, kính trọng các linh mục, và trước khi đến với người nghèo, Mẹ chọn ở lại với Chúa.

Người ta thường nhìn việc phục vụ bằng “chiều ngang” – người với người, người giàu giúp người nghèo, người khỏe giúp người yếu, người có điều kiện giúp người thiếu thốn. Nhưng Mẹ Têrêsa giúp tôi nhận ra còn một “chiều dọc” sâu hơn. Đó là nhìn con người từ Thiên Chúa, và nhìn nhận người đau khổ là hiển dung của Thiên Chúa nơi gian trần, để yêu thương và phục vụ. Nhìn theo chiều ngang, đôi khi dễ bị cuốn vào những tranh luận, hơn thua, đúng sai. Nhưng nhìn theo chiều dọc, mình lại thấy một điều khác: trong mỗi con người đều có hình ảnh của Chúa Giêsu. Mẹ Têrêsa đã sống điều ấy từng ngày.

Có lẽ vì thế mà những điều rất nhỏ nơi Mẹ cũng để lại trong tôi ấn tượng sâu đậm. Tôi nhớ những tấm ảnh Đức Mẹ mà Mẹ luôn mang theo. Mỗi lần gặp ai, Mẹ lại trao một ảnh. Những tấm ảnh bằng nhôm, chỉ nhỏ chừng đầu ngón tay, chẳng có giá trị vật chất, nhưng với Mẹ, đó là một cách trao gởi điều Mẹ tin tưởng và cổ võ lòng sùng kính Đức Maria nơi những người Mẹ gặp. Tôi cũng có được “bộ sưu tập” này, tổng cộng 7 ảnh và vẫn gìn giữ như những báu vật.

Ngoài những tấm ảnh nhỏ ấy, tôi còn một kỷ niệm riêng với Mẹ. Lần vợ tôi đang mang thai con gái, tôi đưa vợ đến gặp Mẹ. Một năm sau, khi con gái tôi được sáu tháng tuổi, gia đình tôi lại đến. Mẹ nắm tay cháu bé và cầu nguyện, ban phúc cho con. Em bé được Mẹ chúc lành năm ấy giờ đã ngoài 30. Tấm hình lưu niệm chụp chung với Mẹ ngày 10.4.1994, trong chuyến Mẹ đến thăm nhà tạm lánh dành cho những phụ nữ mang thai ở Thanh Đa, vẫn được tôi gìn giữ và chọn làm ảnh bìa Facebook từ năm 2012. Ngắm nhìn hình ảnh Mẹ mỗi ngày là cách để tôi nhắc nhớ về một người mẹ kính mến và những giá trị lắng đọng sau mỗi cuộc gặp.

Bài học lớn nhất tôi học được từ Mẹ Têrêsa là trong mọi hoàn cảnh, phản xạ đầu tiên luôn là hướng về Chúa. Mưa hay nắng, thuận lợi hay nghịch cảnh, tôi tự hỏi: Trong hoàn cảnh này, Chúa Giêsu muốn nói gì với tôi? Người muốn tôi suy nghĩ thế nào? Muốn tôi làm gì? Điều quan trọng không phải là làm được bao nhiêu việc, mà là phải biết mình làm những việc ấy vì sao, vì ai. Mọi việc làm đều không ngoài mục đích mang lại điều tốt lành cho tha nhân, nhất là những người khốn khổ.

Tôma Aquinô Trần Văn Soi, Nhật Bản

Tắt quảng cáo [X]