Thanh Hóa là một giáo phận rộng lớn với lịch sử truyền giáo lâu đời. Nơi đây còn lưu giữ nhiều di tích Công giáo và thánh tích tử đạo gắn liền với những giáo xứ đã tồn tại hàng trăm năm. Đi qua từng giáo xứ, ta có thể bắt gặp những ngôi nhà thờ mà một theo cách riêng, kể lại hai dòng chảy song song: dòng phát triển của kiến trúc Công giáo Việt Nam và dòng đức tin âm thầm nhưng bền bỉ của người tín hữu qua bao biến động thời cuộc. Thế nhưng, vì những thăng trầm của lịch sử và vì thiếu người chuyên tâm ghi chép, nhiều chuyện xưa dấu cũ của giáo phận Thanh Hóa đến nay vẫn chưa được sáng tỏ hoặc biết đến rộng rãi.

1. Về Ba Làng thăm ngôi nhà thờ cổ mang tinh thần Việt Nam
1.1 Cộng đoàn tiên khởi của Đàng Ngoài
Công cuộc truyền giáo tại Việt Nam đã manh nha từ thế kỷ XVI nhưng mãi đến khi các giáo sĩ Dòng Tên đặt chân đến Đàng Trong năm 1615 và Đàng Ngoài năm 1627 thì những cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi mới bắt đầu hình thành. Theo hồi ký Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài của linh mục Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) thì ngày 19.3.1627 – nhằm lễ thánh Giuse – con thuyền chở ông cùng thừa sai Pedro Marques đã vượt qua giông bão mà cập bến Cửa Bạng (Thanh Hóa). Chính tại nơi đây, ông đã giảng cho người bản xứ nghe về “Chúa Trời Đất”, rửa tội cho 32 tín hữu đầu tiên và thành lập một xóm đạo mà ông gọi là xóm Thánh Giuse. Công cuộc truyền giáo và cộng đoàn sơ khai ấy được ông kính dâng cho vị thánh mà sau này đã trở thành bổn mạng của cả Giáo hội Việt Nam.
Xóm Thánh Giuse ngày ấy nằm trong làng Du Xuyên trên bán đảo Hải Thanh (nay thuộc phường Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa), là một dải đất hẹp nằm giữa biển và sông, dài khoảng 3km từ cầu Đầu Bè đến cửa Bạng. Hai đầu bán đảo có hai ngọn núi: núi Thủi ở phía Bắc và núi Do (Du Xuyên) ở phía Nam. Từ cộng đoàn tiên khởi ấy, giáo xứ Ba Làng đã dần hình thành và phát triển, trải qua bao biến động của thời cuộc với một đức tin kiên vững.
Người dân nơi đây chủ yếu sống dựa vào biển như đánh bắt cá, cào nghêu…, đặc biệt là sản xuất nước mắm và mắm tôm, tạo nên thương hiệu Ba Làng nổi tiếng. Dọc theo lạch Bạng, bên cạnh những lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên tàu cá, còn có một biến thể của cờ Tòa Thánh với hai màu vàng – trắng và một cây thánh giá đỏ. Những lá cờ ấy giống như lời tuyên xưng đức tin của người dân miền biển, những người vẫn ngày ngày vươn khơi bám biển với tâm tình cậy trông nơi Thiên Chúa. Hiện có một công trình ý nghĩa đang được xây dựng là Đền Thánh Giuse tại Giáo xứ Ba Làng, nằm trên mảnh đất ngay bên cạnh ngôi nhà thờ cổ được xây dựng từ năm 1893. Đây là một cột mốc mới của đời sống đức tin và là minh chứng cho sự phát triển của cộng đoàn tiên khởi này.

1.2 Từ xóm Thánh Giuse đến Ba Làng ngày nay
Thời vua Lê Thánh Tông, núi Do (còn đọc là Du) ở phía Nam bán đảo Hải Thanh được dùng để đặt tên cho cửa Bạng trong các văn bản chính thức (Du hải môn). Minh lương cẩm tú thi tập do chính vua Lê Thánh Tông sáng tác trong chiến dịch Bình Chiêm (1470-1471) có bài Du hải môn lữ thứ, được cho là viết về cửa biển này. Bài thơ có phiên âm như sau:
Triều tông nhất phái thuỷ quyên quyên,/ Hạo diểu hồng đào tiếp hải yên./ Nguyệt Áng hà âm thiềm ảnh lộng,/ Chu Bàn xuân noãn ngọc sinh yên./ Bà bà sái ngạn ngư thôn võng,/ Viễn viễn xung phong cổ khách thuyền./ Nhật mộ ba tâm kiều thủ vọng,/ Bồng Lai chỉ xích tịch dương biên.
Trong tập bản đồ do Gustave Dumoutier khảo cứu (tấm số VII, khu vực Thanh Hóa, xuất bản năm 1896), địa danh Du Xuyên xã (玙川社) được đánh dấu ngay bên cạnh Lạch Bạng. Chữ “Xuyên” (川) nghĩa là sông, khi kết hợp với “Du” (玙) có thể diễn giải thành “Sông Ngọc”. Tuy nhiên, Du Xuyên xã là một đơn vị hành chính chứ không phải tên gọi của sông hay núi. Một số nhà nghiên cứu cho rằng “Du Xuyên” thực chất là cách phiên âm Hán Nôm của Giuse, tương tự trường hợp giáo xứ Du Sinh và ngọn đồi cùng tên thuộc giáo phận Đà Lạt. Nếu giả thuyết này xác đáng, thì yếu tố “Xuyên” đã được bổ sung về sau nhằm định danh một khu vực cư trú là xóm Thánh Giuse thuở trước.
Đến năm 1846 thì giáo xứ Cửa Bạng (tiền thân của giáo xứ Ba Làng ngày nay) được thành lập với 2427 giáo dân, sinh sống trên địa bàn ba huyện Tĩnh Gia, Nông Cống và Quảng Xương, nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (8.12) làm bổn mạng. Do những khác biệt về tín ngưỡng và văn hóa, các tín hữu Công giáo nơi đây đã rời khu vực núi Do ở phía Nam bán đảo Hải Thanh, di cư đến vùng núi Thủi ở phía Bắc để khai hoang và lập nên một chòm (xóm) mới. Trong thời kỳ cấm đạo, nhiều tín hữu từ Nghệ An, Hà Tĩnh và các vùng lân cận đã đến đây lánh nạn, khiến dân số tăng lên nhanh chóng. Không muốn tiếp tục phụ thuộc vào làng Du Xuyên, dân chòm này đã xin tách ra lập thành làng mới với tên gọi Bồng Doanh, tức làng Danh hay Sung Mãn ngày nay.
Theo truyền khẩu của người dân trong vùng, nhân lúc Gia Long mới lên ngôi và tiến hành sắp xếp các đơn vị hành chính, ông Quận Hò ở làng Như Áng bên kia lạch Bạng đã xin phép di dân sang bên này để khai hoang, lập ấp. Hồi đó, làng Như Áng bị xâm thực mạnh, thường xuyên sạt lở, nhân dân phải chịu cảnh màn trời chiếu đất, mà Quận Hò lại là người có công với triều đình nên khẩn cầu của ông đã được quan trên chấp thuận. Những người đi theo ông đã chọn vùng đất nằm giữa hai làng Du Xuyên và Bồng Doanh để lập nên thôn Như Xuân. Ban đầu, thôn này vẫn thuộc làng Như Áng (tổng Tuần Lá, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hoa), mãi đến khoảng năm 1915 mới chính thức tách thành làng riêng.
Trong cùng khoảng thời gian đó, trên mảnh đất nằm giữa làng Bồng Doanh và núi Thủi có một chòm (xóm) được lập nên bởi ngư dân đến từ các làng Lệ, Lau (gần Sầm Sơn), Ngoại, Khoa Giáp… Họ đến dựng chòi lá nhỏ để trú ngụ trong mùa đánh bắt. Hết mùa cá, họ lại trở về quê cũ làm ruộng thuê, nhưng vẫn đóng thuế cho làng Bồng Doanh. Về sau, họ định cư hẳn ở khu vực đó và lập nên làng Ngoại Hải.
Ba làng Sung Mãn, Như Xuân và Ngoại Hải cùng nằm trên bán đảo Hải Thanh nên mới hình thành địa danh Ba Làng. Đến năm 1901 thì giáo xứ Cửa Bạng cũng chính thức đổi tên thành giáo xứ Ba Làng. Ngoài ra, dưới chân núi Thủi về phía Tây Nam còn có làng Sung Thượng. Trong các cuộc bách hại thời Tự Đức và phong trào Văn Thân, nhiều tín hữu Công giáo từ các vùng lân cận về Ba Làng lánh nạn đã được sắp xếp đến đây khai hoang, lập nên một trang trại khoảng mười mẫu gọi là Trại Cụ. Ban đầu khu vực này được gọi là xóm Trại. Đến khi dân cư đông đúc thì lập thành làng Sung Mãn Thượng, tức là Sung Thượng ngày nay.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, một số giáo dân Ba Làng di cư vào miền Nam, lập nên các cộng đoàn mới như giáo xứ Thanh Hải (giáo phận Phan Thiết), giáo xứ Ba Làng (giáo phận Nha Trang). Trong quá trình phát triển, các giáo họ nằm ngoài bán đảo Hải Thanh đã được nâng lên thành giáo xứ hoặc giáo họ độc lập là Phúc Lãng (1890), Thái Yên (1896), Thượng Chiểu (1933), Thanh Thủy (1935) và Nghi Sơn (2007). Ngày nay, giáo xứ Ba Làng chỉ còn bốn thôn nằm trên bán đảo Hải Thanh, cũng là bốn giáo họ Sung Thượng, Ngoại Hải, Sung Mãn và Như Xuân.

1.3 Một truyền thuyết Công giáo
Ở Ba Làng còn lưu truyền một câu chuyện có thể xem là ví dụ đặc biệt cho sự giao thoa giữa văn hóa truyền thống Việt Nam và đức tin Công giáo. Chuyện kể rằng thánh Phanxicô Xaviê (Francisco Javier), trên đường sang Trung Hoa truyền giáo, đã gặp bão lớn phải ghé vào cửa Bạng. Trong lúc ngài đang lần chuỗi Mân Côi thì một cơn sóng mạnh đã làm thuyền chao đảo, khiến tràng hạt rơi xuống biển. Thánh nhân lên tiếng nhờ một con cá uốp nhặt giúp, nhưng con cá lại bơi đi mất. Đúng lúc ấy, một con ghẹ đã dùng càng kẹp lấy tràng hạt và bơi về phía ngài. Nhận lại tràng hạt, thánh nhân liền làm dấu Thánh giá để chúc lành cho con vật. Từ đó, loài ghẹ này mang dấu thánh giá trên mai như dấu chỉ của việc làm sốt sắng. Người dân Ba Làng gọi là ghẹ Thánh giá, một loài ghẹ chỉ sống quanh bán đảo Hải Thanh. Còn loài cá uốp, vì đã không nghe lời thánh nhân, nên ngày nay trong đầu có một viên sỏi là biểu tượng của sự chai đá. Câu chuyện này còn có một dị bản khác kể rằng người cập bến cửa Bạng và chúc lành cho loài ghẹ Thánh giá không phải là thánh Phanxicô Xaviê, mà là thừa sai Alexandre de Rhodes sau cơn bão ông gặp vào dịp lễ thánh Giuse năm 1627. Dù theo phiên bản nào thì câu chuyện vẫn mang dáng dấp của một truyền thuyết dựa trên nhân vật lịch sử hoặc một truyện cổ tích, nhằm lý giải nguồn gốc hay hình dáng, như vẫn có rất nhiều ở các loài vật, loài cây trái nước ta. Những câu chuyện như vậy cần được tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu và luận giải, để từ đó có thể hiểu hơn về nền văn hóa Công giáo đã hình thành và phát triển trong lòng dân tộc Việt Nam.

1.4 Ngôi nhà thờ cổ mang tinh thần Việt Nam
Ngôi nhà thờ cổ của giáo xứ Ba Làng là một trong những công trình kiến trúc Công giáo lâu đời ở Việt Nam. Được xây dựng năm 1893, trong bối cảnh đất nước còn rối ren, các cuộc bách hại người Công giáo chỉ mới vừa kết thúc hơn chục năm, ngôi nhà thờ này là dấu chỉ của một đức tin kiên vững. Không đồ sộ như những công trình do người Pháp xây dựng, nhà thờ Ba Làng nằm hiền hòa bên bờ biển với kết cấu gỗ và mặt tiền kiểu tam quan truyền thống Việt Nam, thể hiện tinh thần hòa hợp dân tộc ngay sau những ngày tháng đầy sóng gió, bất chấp những mâu thuẫn lương – giáo đã dẫn tới bao đau thương, bách hại.
Giống như những công trình truyền thống, ngôi nhà thờ cổ của giáo xứ Ba Làng cũng chịu ảnh hưởng của phong thủy. Tuy nhiên, bố cục phong thủy của thánh đường này không gói gọn trong khuôn viên riêng, mà bao quát trên toàn vùng đất đang tọa lạc là bán đảo Hải Thanh. Bán đảo này có Tứ Thánh Thú bao quanh, hội đủ sơn triều thủy tụ (núi chầu, nước tụ). Cụ thể, phía sau bán đảo, phóng tầm mắt ra xa là dãy núi Nam Lặng cao sừng sững, tượng trưng cho Huyền Vũ, đóng vai trò hậu chẩm, nghĩa là gối nằm ở phía sau, tức là điểm tựa. Phía trước bán đảo là biển lớn, tượng trưng cho Chu Tước, đóng vai trò minh đường là nơi tụ khí. Tuy rằng biển không phải lúc nào cũng phẳng lặng nhưng phía xa xa đã có hòn Mê, hòn Đót, hòn Miệng… làm tiền án (bình phong) che chở trước gió bão. Hai bên bán đảo có núi Thủi và núi Do là Thanh Long và Bạch Hổ, đóng vai trò như hai cánh tay bảo vệ vùng đất ở trung tâm. Bố cục này tạo thành thế tàng phong tụ khí (tránh gió, tích khí), là nơi thích hợp để định cư, vừa có đường phát triển (ra biển), vừa có một vị thế vững chắc tựa như người ngồi ghế bành (được bao bọc ba phía). Duy chỉ có một điểm hạn chế là bán đảo này dài và hẹp, thiếu không gian phát triển nên khó lòng xây dựng một đô thị lớn. Nhà thờ Ba Làng tọa lạc trên bán đảo, nhìn ra biển ở phía Đông, tựa vào dãy Nam Lặng ở phía Tây, vừa tận dụng được bố cục phong thủy, vừa phù hợp với truyền thống Việt Nam, vì hướng Đông vốn là hướng thần đạo theo quan niệm Á Đông, hướng thích hợp nhất để xây dựng các công trình tâm linh.
Mặt tiền nhà thờ là năm ngọn tháp tượng trưng cho ngũ phúc, tạo thành năm ô cửa theo lối kiến trúc truyền thống Việt Nam. Không gian do tháp tạo ra làm nên một khoảng chuyển tiếp để giảm bớt tác động của nắng và gió, một đặc điểm thường chỉ thấy ở những công trình thích nghi với khí hậu nhiệt đới. Trên đỉnh tháp trung tâm là một cây Thánh giá lớn, bốn tháp hai bên là hình tượng rồng đội mặt trời được cách điệu thành các hoa văn uốn lượn. Mặt trời trên hai tháp cạnh tháp trung tâm cũng được cách điệu giống như bánh xe pháp luân thường thấy ở những ngôi chùa cổ, phía trên là fleur-de-lys, một biểu tượng được liên hệ với Chúa Ba Ngôi. Vậy, hình tượng bánh xe kết hợp với fleur-de-lys này có thể hiểu là vòng xoay của vạn vật nằm trong tay của Thiên Chúa Quan Phòng. Hai bên nhà thờ, biểu tượng fleur-de-lys chạy dọc theo nóc tường tạo thành hai tràng hoa song song đối xứng. Bên dưới là những ô cửa sổ vòm đã hư hại nhiều, lộ rõ dấu vết của thời gian.
Cần phải làm rõ rằng biểu tượng fleur-de-lys thường bị nhầm lẫn là hoa bách hợp (còn gọi là loa kèn hoặc huệ tây), nhưng thực chất lại là hoa diên vĩ. Nguyên nhân của sự nhầm lẫn này là vì cái tên fleur-de-lys rất gần với “lis”, nghĩa là hoa bách hợp trong tiếng Pháp (fleur là “bông hoa”). Dầu vậy, theo Pierre-Augustin Boissier de Sauvages, một nhà tự nhiên học người Pháp vào thế kỷ XVIII, thì hoạ tiết fleur-de-lys chính là hoa diên vĩ. Loài hoa này mọc rất nhiều bên bờ sông Lys ở Flanders, vốn là địa bàn cư trú lâu đời của người Frank (tổ tiên của người Pháp ngày này). Cái tên fleur-de-lys có nghĩa là hoa của sông Lys. Có lẽ, các vị vua người Frank đã lựa chọn loài hoa quen thuộc này để làm biểu tượng cho vương quốc của mình. Truyền thuyết kể rằng, Clovis I (466-511), vị vua đầu tiên của người Frank theo Công giáo, đã được xức dầu phong vương bằng một bình dầu thánh do chim bồ câu mang xuống từ trời, và ở trên chiếc bình đó có khắc biểu tượng fleur-de-lys. Chính vì thế mà fleur-de-lys được sử dụng như một dấu hiệu của quyền cai trị do Thiên Chúa ban, được xem như biểu tượng của hoàng gia và được gắn trên đỉnh cây quyền trượng của nhà vua. Đến thời thánh vương Louis IX (1214-1270) thì biểu tượng này với ba cánh hoa được liên kết với Ba Ngôi Thiên Chúa, và từ đó trở nên phổ biến trong các nhà thờ Công giáo. Ngoài ra, do sự nhầm lẫn với hoa bách hợp, biểu tượng của sự trong sạch và thanh khiết, fleur-de-lys còn được sử dụng như một hình tượng của Đức Maria hoặc Thánh cả Giuse.
Trở lại với ngôi nhà thờ Ba Làng, trên mặt tháp trung tâm có dòng chữ được khảm sành 原 大 道, đọc từ phải sang trái theo lối cổ là Đạo (道) Đại (大) Nguyên (原). Ba chữ này ngày nay đã không còn rõ nghĩa. Tra cứu thư tịch cổ, trong Chuyện Đổng Trọng Thư (董仲舒传), một tập nhỏ của Hàn Thư (汉书) viết thời Đông Hán (thế kỷ I-II), có một câu thế này: 道之大原出于天, 天不 变, 道亦不变. Phiên âm: Đạo chi đại nguyên xuất vu Thiên, Thiên bất biến, Đạo diệc bất biến. Nghĩa là: Cái gốc lớn của đạo là Thiên (Trời), Thiên bất biến, thì Đạo cũng bất biến. Vậy nếu ba chữ Đạo Đại Nguyên trên mặt tháp chính giữa mặt tiền là mượn từ câu này, thì tiền nhân đã có ý khẳng định đạo của ngôi nhà thờ này là đạo từ Trời, và vì thế mà bất biến. Có lẽ đức giám mục Jeanningros Vị và linh mục Simon Chính cũng có cùng ý nghĩ như vậy khi đặt tên cho công trình chung là Thánh Đạo Đại Nguyên Lược Giải (xuất bản năm 1907).
Như những ngôi nhà thờ khác được xây dựng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, kết cấu bên trong nhà thờ Ba Làng được làm hoàn toàn bằng gỗ. Tương ứng với năm tháp ở mặt tiền, không gian bên trong được chia thành năm gian với bốn hàng cột lớn và hai bức tường hông. Rường, xà ngang và đầu bẩy được chạm khắc tinh xảo các họa tiết trang trí truyền thống. Chạy dọc theo công trình là hệ thống thông gió có ô cửa chạm khắc hình chữ thọ (壽). Nổi bật trên trong không gian thô mộc của gỗ là gian cung thánh sơn son thếp vàng, thu hút ánh nhìn của người tín hữu. Trên gian cung thánh, các hoa văn trang trí xuất hiện dày đặc, kết hợp giữa các hình tượng Công giáo và họa tiết truyền thống Việt Nam. Bên cạnh các hình tượng Công giáo như Thánh giá, chim bồ câu, chùm nho, bông lúa, fleur-de-lys, HIS…, thì cũng có các họa tiết truyền thống Việt Nam như hoa sen, hoa cúc, hoa chanh… Trên trần gian cung thánh là hai bức tranh vẽ Chúa Cha (dưới hình tượng một người đàn ông lớn tuổi) và Chúa Thánh Thần (dưới hình chim bồ câu). Mặt dưới của thanh xà ngang chính (câu đầu) phía trên bức tranh vẽ Chúa Thánh Thần có một dòng chữ Latin đã mờ mất mấy chữ, có thể là “COR JESU SACRATISSIMUM”, nghĩa là “Thánh Tâm Chúa Giêsu”. Hai bên là ô cửa thông gió hình chữ thọ và những ô cửa kính màu có hình các vị thánh tử đạo có liên hệ với giáo phận Thanh Hóa là Phaolô Lê Bảo Tịnh, Anê Lê Thị Thành, Giacôbê Đỗ Mai Năm và Phaolô Nguyễn Ngân.
Chính giữa mặt đứng của cung thánh là hình chạm khắc mặt nhật (monstrare) được trang trí như một bàn thờ nhỏ với những cột trụ ở hai bên. Phía trên mặt nhật là dòng chữ “O SALUTARIS HOSTIA” viết liền, nghĩa là “Ôi hy tế cứu độ”. Đây là câu đầu tiên trong một bài thánh thi cùng tên do thánh Tôma Aquinô (Thomas Aquinas) sáng tác, được sử dụng trong giờ chầu Thánh Thể. Phía dưới mặt nhật là dòng chữ “ECCE AGNUS DEI” viết liền, nghĩa là “Đây Chiên Thiên Chúa”, phần đầu tiên của câu Kinh Thánh “Đây Chiên Thiên Chúa, đây đấng xóa tội trần gian” (Ga 1:29). Chính giữa gian cung thánh là bàn thờ cũng sơn son thếp vàng, trang trí hình ảnh Chiên Thiên Chúa. Do bàn thờ được đặt ở vị trí trung tâm của cung thánh, cho phép vị chủ tế đứng quay về phía cộng đoàn khi cử hành phụng vụ, nên nhiều khả năng khu vực này đã được trùng tu và thay đổi bố cục sau công đồng Vatican II.
Từ tổng thể cho đến chi tiết, có thế thấy ngôi nhà thờ cổ của giáo xứ Ba Làng là một công trình kiến trúc thể hiện đức tin Công giáo theo tinh thần Việt Nam, một di sản kiến trúc đặc sắc của Giáo hội. Mai đây, khi đền thánh Giuse uy nghi, độ sộ theo phong cách Phục Hưng được xây dựng ngay bên cạnh hoàn thành, thì ngôi nhà thờ cổ nhỏ bé này vẫn sẽ là một di tích quan trọng, không thể bỏ qua khi đến với vùng đất dày lịch sử này.
Kỳ Phong















