|
|
Một
người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, và rơi vào tay bọn cướp; chúng bóc lột
người ấy, đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để người ấy nửa sống nửa chết.
Tình
cờ một tư tế cũng đi qua đường đó, trông thấy nạn nhân, ông liền đi qua.
Cũng
vậy, một trợ tế khi đi đến đó, trông thấy nạn nhân, cũng đi qua.
Nhưng
một người xứ Samaria đi đường đến gần người ấy, trông thấy và động lòng thương.
Người đó lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân
lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc.
Hôm
sau, lấy ra hai quan tiền, ông trao cho chủ quán mà bảo rằng: ‘Ông hãy săn sóc
người ấy và ngoài ra, còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ trả lại
ông’.
Quá
quen và dường như nghe quá nhiều lần trong cuộc đời nữa là đàng khác !
Câu
chuyện không khó để tìm ra ý nghĩa. Ý nghĩa dễ thấy nhất đó chính là sự vô cảm
mà bi đát nữa đó là sự vô cảm lại phát xuất từ những con người gọi là tri thức,
đạo đức và trình độ.
Có
3 người trong câu chuyện này kèm với nạn nhân nửa sống nửa chết.
Người
tư tế thì rất sợ không dám đụng vào vì theo luật Do Thái thì sẽ bị ô uế. Luật
nói như thế này : Ai đụng vào người chết, bất cứ người chết này là ai, đều bị
nhiễm uế trong bảy ngày liền. Ngày thứ ba và thứ bảy, người đó sẽ lấy nước nói
trên mà thanh tẩy mình và sẽ được sạch; nếu người đó không thanh tẩy mình ngày
thứ ba và thứ bảy, thì sẽ không được sạch. Ai đụng vào người chết -thi thể của
một người đã chết- mà không thanh tẩy mình, người đó làm cho Nhà Tạm của Đức
Chúa bị nhiễm uế, người như thế phải bị diệt trừ khỏi Ít-ra-en, vì nó đã không
được dội nước tẩy uế. Nó đã bị nhiễm uế, và ô uế vẫn tồn tại nơi nó. (Ds 19,
11-13).
Chính
vì vậy nên tư tế không dám đụng vào. Trợ tế thì cũng như vậy. Cuối cùng còn người
Samari.
Những
người Sa-ma-ri là ai?
Người
Sa-ma-ri sống ở một vùng thuộc phía bắc của Giu-đê. Người Sa-ma-ri bao gồm con
cháu của những cặp vợ chồng mà một trong hai người không phải là người Do Thái.
Đến
thế kỷ thứ nhất công nguyên, người Sa-ma-ri lập tôn giáo riêng. Họ chấp nhận
năm sách đầu của phần Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ nhưng thường bác bỏ những phần
còn lại.
Nhiều
người Do Thái vào thời Chúa Giê-su khinh miệt người Sa-ma-ri và tránh giao thiệp
với họ. Một số người Do Thái dùng cụm từ “người Sa-ma-ri” như là cách sỉ nhục.
Với
3 con người này, Ta thấy câu chuyện này chỉ ra một lối sống thay vì chỉ nghĩ đến
bản thân mình, mà cần phải biết quan tâm đến tha nhân. Đây là lối sống vô cảm.
Ngày
hôm nay, ta thấy giữa một xã hội phải nói là quá buồn vì căn bệnh vô cảm. Vô cảm
ngày mỗi ngày len lỏi vào trong đời sống của con người không trừ một ai. Cả những
người Kitô hữu vẫn sống vô cảm và vô cảm ngay với anh chị em trong cùng ngôi
nhà của mình, trong cùng cộng đoàn của mình.
Chỉ
vì một chút lợi nhuận, một chút đất, một chút của hội môn mà tình huynh đệ
tương tàn với nhau. Ra đường thì người ta dường như sống theo kiểu mackeno hay
là sống chết mặc bay. Lối sống ích kỷ, lối sống chỉ biết mình ngày hôm nay dường
như đang lên ngôi trong xã hội.
Chúa
Giê-su nói với người thông luật cũng chính là nói với mỗi người chúng ta hãy thực
hành như người Samari nhân hậu đã làm. Chúng ta phải có thái độ của người
Samari nhân lành để chứng minh về đức tin của mình. Thánh Gia-cô-bê để nhắc nhở
chúng ta rằng, “Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Chúng ta nên tự chất
vấn lương tâm mình, nếu đức tin của chúng ta sinh hoa kết trái, thì nó sẽ sản
sinh những công việc tốt lành, hoặc ngược lại, nếu nó khô cằn thì ắt hẳn nó sẽ
trở nên chết chóc hơn là sống động.
Chúng ta hãy đi và làm như người Samari đã
làm. Tất cả chúng ta phải tiếp tục nhiệm vụ của người Samari nhân hậu bên cạnh
tất cả những ai chúng ta gặp và chân tình giúp đỡ, băng bó các vết thương của họ,
những vết thương nghèo đói, đau yếu, bệnh tật, cô đơn, chết chóc… Đừng ngồi đặt
vấn đề : “Ai là anh em tôi ?”, nhưng hãy đi và tỏ ra “mình là
anh em của mọi người”. Đừng dừng lại tìm xem người đó là ai, có đạo hay
không có đạo. Nhưng hãy đi và làm như người Samari kia, nhìn thấy vết thương
thì băng bó, nhìn thấy người đau khổ thì cứu giúp. Phải vượt qua quan niệm hẹp
hòi của người Do Thái, để đi đến tình huynh đệ phổ quát, đại đồng.
Yêu
mến Chúa trong nhà thờ, không đủ, nếu không yêu mến Chúa trên đường đi và trong
người anh em đồng bào, đồng loại. Chúng ta phải sống đạo chứ không phải chỉ biết
luật dạy mến Chúa yêu người trong sách vở. Thánh Gioan Tông đồ đã nói :
“Anh em đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thực
sự bằng việc làm”. Ngài còn nói : “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng
mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối. Ai yêu thương anh em
mình thì sống trong ánh sáng. Nhưng ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối và
bước đi trong bóng tối mà chẳng biết mình đi đâu, vì bóng tối đã làm cho người ấy
ra mù quáng” (1Ga 2,9-11).
Lm.
Anmai, CSsR

















