Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn được truyền chức linh mục năm 1965 và được bổ nhiệm làm giám mục năm 1993. Trong 28 năm linh mục đầu đời đó, ngài đã 25 năm chuyên lo việc đào tạo linh mục tương lai tại Chủng viện Cái Răng thuộc giáo phận Cần Thơ. Những người chỉ có dịp gặp ngài một vài lần hoặc những người đã chung sống và làm việc với ngài lâu năm đều có ấn tượng đáng nhớ về ngài. Khi được tin ĐHY qua đời, tâm trí tôi nhớ lại biết bao kỷ niệm và biết bao điều về ngài trong 20 năm sống và làm việc chung ở Cái Răng. Một điều xin được chia sẻ là tầm nhìn xa mang tính chiến lược của ngài trong vai trò lãnh đạo tại chủng viện qua hai sự kiện: Ngài đã định hướng việc đào tạo linh mục thiết lập năm tu đức trong hành trình đào tạo tại chủng viện, trước khi có những văn kiện chính thức.  

 Dc Chuong.JPG (434 KB)

1. Định hướng việc đào tạo linh mục

Văn kiện chính thức định hướng việc đào tạo linh mục tại Việt Nam đã được Hội đồng Giám mục ban hành năm 2012 là cuốn Đào tạo linh mục, Định hướng và Chỉ dẫn. Cuốn “Chỉ Nam” này do Ủy ban Giáo sĩ và Chủng sinh soạn thảo, được Hội đồng Giám mục xét duyệt ban hành sau khi Tòa Thánh phê chuẩn. Cuốn “Ratio” (Định hướng và Chỉ dẫn) này chủ yếu dựa trên Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II về việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh ngày nay, đó Tông huấn Pastores Dabo Vobis (Những Mục tử như lòng Chúa mong ước) được ban hành năm 1992. Từ năm 2012, hành trình đào tạo ở các Đại Chủng viện tại Việt Nam bắt đầu bằng một năm Tu đức, kế đến là hai năm Triết học, rồi một năm thử (thách) bên ngoài chủng viện, sau đó là bốn năm Thần học và một năm Mục vụ tại giáo xứ.

Riêng tại Đại Chủng viện Thánh Quí ở Cái Răng, vào năm 1988, cha Giám đốc Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn đã cùng với các cha giáo phiên dịch và trao đổi với nhau về định hướng đào tạo linh mục theo cuốn “Integral formation of Catholic priests” (Đào tạo toàn vẹn linh mục Công giáocủa cha Marcial Maciel, một cuốn sách đã 12 lần xuất bản từ năm 1990 đến năm 2005 bằng 4 thứ tiếng, khi đó đã được bán tại 98 tiệm sách trên khắp thế giới. Có thể nói, đây tiền thâncủa Tông huấn Pastores Dabo Vobis. Rồi ngay sau khi Tông huấn Pastores Dabo Vobis được ban hành ngày 25 tháng 3 năm 1992, cha Gioan Baotixita đã cùng với các cha giáo dịch sang tiếng Việt, chính ngài đã tóm tắt thành một tậpcẩm nangcho các chủng sinh học tập và thực hành. Hiện nay, nhiều người đã ý thức việc “đào tạo toàn vẹn về 4 chiều kích”: nhân bản, tu đức, trí thức và mục vụ; quan tâm đến việc “tự đào tạo”, không phải tự hướng dẫn mình, nhưng là cá nhân chủng sinh (ứng sinh tại chủng viện) đóng vai trò “chủ lực” để cho Chúa Thánh Thần là “nguồn lực” hướng dẫn, với sự “trợ lực” của mọi thành phần Dân Chúa nói chung, cách riêng của những người “đồng hành”, đặc biệt là của các linh mục hữu trách các bạn đồng môn trong chủng viện. Đại Chủng viện Thánh Quí thường dùng từ “tháp tùng”, ngụ ý diễn tả một sự “đồng hành” nhưng luôn tôn trọng tự do và nhân vị của người được đào tạo.

 

2. Thiết lập năm Tu đức là năm đầu tiên tại Đại Chủng viện

Từ năm 2012 – năm Hội đồng Giám mục Việt Nam ban hành Ratio về việc đào tạo linh mục – các Đại Chủng viện tại Việt Nam đã tổ chức năm Tu đức là năm đầu tiên trong hành trình đào tạo tại chủng viện. Dầu vậy, tại Đại Chủng viện Thánh Quí, trước đó 12 năm, từ niên khóa 1999-2000, cha Giám đốc Gioan Baotixita đã mở năm Tu đức là năm đầu tiên bước vào hành trình đào tạo, năm định hướng ơn gọi linh mục cho các chủng sinh. Năm Tu đức xem ra tương tự như năm Nhà tập” trong hành trình nhiều năm đào tạo các tu sĩ dòng.

Về 4 chiều kích đào tạo: đào tạo nhân bản là nền móng; đào tạo tu đức là quan trọng; đào tạo trí thức là cần thiết, đào tạo mục vụ  mục tiêu quy chiếu các chiều kích đào tạo, bởi lẽ sứ vụ cốt yếu của linh mục giáo phận là loan báo Tin Mừng. Trong việc đào tạo mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai, Giáo hội nhấn mạnh đến việc đổi mới đời sống Kitô hữu. Trong việc đào tạo linh mục, Giáo hội quan tâm đến tầm quan trọng của việc đào tạo tu đức. Xin kể lại câu chuyện về cha Thánh Gioan Maria Vianney: Một cha giáo Đại Chủng viện được Đức Giám mục giáo phận yêu cầu kiểm tra trình độ học vấn của Gioan Maria Vianney khi còn là ứng sinh, đã thất vọng báo cáo với ngài rằng: “Anh ta dốt như lừa thì làm linh mục thế nào được!”. Khi vị giám mục nói lại với Gioan Maria Vianney như thế, anh ta thưa với ngài: “Ông Samson chỉ cần một cái hàm lừa đã đánh thắng quân Philitinh, thì chẳng lẽ cả một con lừa không giúp ích gì cho Giáo hội?”. Cha Gioan Vianney sau này đã được Giáo hội tuyên thánh và rồi được công bố là bổn mạng để làm gương về đạo đức cho các linh mục. Nếu ai tìm trong sách Phúc Âm để xem có chỗ nào Chúa Giêsu nói rằng Chúa cần một cái gì đó, thì chỉ có thể gặp một chỗ duy nhất là Chúa “cần một con lừa” để vào thành Giêrusalem (x. Mt 21, 3). Như thế, điều quan trọng cần thiết trong đời sống Kitô hữu nói chung, trong đời sống Kitô hữu linh mục nói riêng, là Phúc Âm hóa chính bản thân mình. Đây một hành trình đào tạo kéo dài suốt đời, gọi là đào tạo trường kỳ.

 

Thay lời kết

Đọc sách Công vụ Tông đồ, chúng ta thấy kết quả của công cuộc đào tạo (educatio, formatio) là công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi: được Chúa Cha tách ra (educere), được Chúa Thánh Thần thánh hóa và bảo trợ (Paraclitus), để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Con gương mẫu (formare). Đó là “ơn gọi” của Thiên Chúa dành cho những con người hèn yếu, và sự đáp lại của con người cũng rất hạn chế. Bởi thế, sự yếu đuối của con người, kinh nghiệm của con người về sự mỏng dòn ẩn chứa một cơ hội độc đáo, cơ hội để cảm nghiệm được sức mạnh của Ðức Kitô đã chết và phục sinh, và cơ hội để khẳng định với Thánh Phaolô rằng: “Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh” (1 Cr 13, 10). Hơn nữa, Tông huấn “Pastores dabo vobis” đặt toàn bộ công cuộc đào tạo linh mục trên lời hứa của Thiên Chúa: “Ta sẽ ban cho các ngươi những mục tử như lòng Ta mong ước” (Gr 3, 15).

Dầu vậy, Giáo hội địa phương với mọi thành phần Dân Chúa, lãnh trách nhiệm đào tạo linh mục, trong đó “các Đại Chủng viện là cần thiết” (Vat. II, OT 4). Việc đào tạo linh mục không chỉ giới hạn trong thời gian tại Đại Chủng viện, trải dài suốt cả ba giai đoạn: trước, trong, và sau Đại Chủng viện. Ngoài ra, vì việc đào tạo này diễn ra trong lịch sử, nên cần quan tâm đến những ảnh hưởng của bối cảnh văn hóa hội hôm nay. Tuy nhiên, mọi người cần ý thức rằng Chúa Thánh Thần luôn nhà đào tạo chính. Ngài vẫn đang tác động và tạo điều kiện bên ngoài để biến đổi tận bên trong tâm hồn của các chủng sinh và linh mục, giúp họ trở nên “con người của mầu nhiệm Chúa Giêsu”, luôn hiệp thông với Giáo hội là nhiệm thể của Chúa Giêsu”, để từ đó họ có thể chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng, chủ yếu là loan báo cho mọi người biết Chúa Giêsu là Tin Mừng yêu thương cứu độ của Thiên Chúa, “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6).

Xin tạ ơn Thiên Chúa và biết ơn Đức Hồng y Gioan Baotixita một người lãnh đạo có tầm nhìn xa mang tính chiến lược về đào tạo, và đã kiên trì theo đuổi chiến lược mà Giáo hội đã khởi xướng nhờ tác động của Chúa Thánh Thần.

Giám mục Antôn Huy Chương

 

Tắt quảng cáo [X]