Tiếng chuông nhà thờ Phước Môn ngân vang trong buổi sáng cuối tháng Bảy, gợi nhắc một ký ức đẹp của vùng đất Quảng Trị. Ngày 28.7.2026 vừa qua, tại giáo xứ Phước Môn, cha Barnaba Trần Đình Phục, Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Huế đã chủ sự thánh lễ giỗ lần thứ 91 của cụ Thượng thư Phêrô Giuse Nguyễn Hữu Bài. Đông đảo linh mục, tu sĩ, giáo dân cùng con cháu dòng tộc và người dân địa phương đã quy tụ hiệp dâng thánh lễ, tưởng nhớ một người Công giáo mẫu mực, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, cách riêng với TGP Huế. Trong lễ giỗ lần này, nghi thức làm phép Nghĩa trang Viện Dục Anh – nơi an nghỉ của các tín hữu – cùng đài Các Thánh Tử Đạo cũng được cử hành, càng làm nổi bật niềm tin Kitô giáo vào mầu nhiệm Đức Kitô Phục Sinh, đồng thời thể hiện sự trân trọng tâm nguyện lúc sinh thời của ông.
Chín mươi mốt năm đã trôi qua kể từ ngày cụ về với Chúa, tên tuổi Nguyễn Hữu Bài vẫn được người Huế nhắc trong sự kính trọng. Cụ từng giữ cương vị Thượng thư, Phụ chính đại thần dưới nhiều đời vua, và là một nhân vật biết dung hòa giữa tinh thần nhập thế của một nhà nho với đức ái của một người Kitô hữu.

Sinh năm 1863 tại làng Cao Xá, Quảng Trị, trong một gia đình Công giáo giàu truyền thống đạo hạnh và lòng yêu nước, cậu Nguyễn Hữu Bài trưởng thành trong môi trường giáo dục Công giáo. Theo gia phả, ông là cháu đời thứ 7 của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh – người có công mở cõi ở phương Nam; tứ cháu đời thứ 17 của Ức Trai Nguyễn Trãi.
Mười tuổi, cậu bé Nguyễn Hữu Bài được gởi vào Tiểu chủng viện An Ninh. Chính tại nơi ấy, trí tuệ, đức hạnh và khả năng văn chương của cậu nhanh chóng được các nhà đào tạo ghi nhận. Đức cha Caspar đã đánh giá cậu là một chủng sinh có tương lai xán lạn và đã gởi sang Đại chủng viện Penang (Malaysia) để tiếp tục đào tạo. Dù cuối cùng không bước tới thánh chức linh mục vì nhận ra mình không có ơn gọi tu trì, nhưng những năm tháng trong chủng viện đã hình thành nơi người thanh niên trẻ ấy một nền tảng đức tin vững chắc và một nhân sinh quan đặt Thiên Chúa ở vị trí trung tâm.
Bước vào quan trường trong giai đoạn đất nước đầy biến động, cụ Nguyễn Hữu Bài đã đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn qua nhiều đời vua, đặc biệt dưới thời vua Khải Định và những năm đầu triều Bảo Đại. Cụ nổi tiếng là vị quan không màng tư lợi. Dù giữ chức Thượng thư Bộ Lại – một trong những vị trí quyền lực nhất triều đình – cụ vẫn sống giản dị, không lợi dụng chức quyền để làm giàu hay vun vén cho gia đình. Ngược lại, đây là một vị đại thần thanh liêm, trung quân ái quốc, có bản lĩnh và sống đức tin sâu sắc. Ông nhiều lần bày tỏ thái độ không muốn sự hiện diện của người Pháp ở Việt Nam, và đề cao tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc.
Nhắc đến cụ Nguyễn Hữu Bài, người Quảng Trị vẫn thường nhắc đến công cuộc dinh điền “Ngũ Phước”. Điều đó cho thấy một tầm nhìn phát triển nông thôn rất tiến bộ vào đầu thế kỷ XX. Từ Phước Môn, Phước Sơn, Phước Sa, Phước Tuyền đến Phước Nguyên, những vùng đất hoang hóa đã dần trở thành làng mạc trù phú nhờ công cuộc vận động dân chúng khai khẩn ruộng đất, mở đường giao thông và phát triển nông nghiệp. Ngoài ra, ở vùng cao nguyên đất đỏ giữa sông Cam Lộ và sông Thạch Hãn có một vùng gọi là làng Cùa, vị Thượng thư cho lập Hưng Nông Sở – một khu đồn điền mới rộng trên 10 dặm vuông, đồng thời mở đường mới để xe ô tô có thể chạy lên tới Cùa. Cụ rất sùng kính các chân phước tử đạo Việt Nam, trong dòng dõi có chân phước Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh là em ruột ông cố của cụ (thời cụ các chân phước tử đạo Việt Nam chưa được tuyên Hiển thánh), vì thế tại đây, theo nhiều tài liệu, cụ từng cho xây ngôi đền kính các vị tử đạo Việt Nam.
Trong sự nghiệp đời mình, cụ Nguyễn Hữu Bài có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội Việt Nam. Năm 1922, trong chuyến tháp tùng vua Khải Định sang Pháp, cụ cũng đã đến Roma và được Đức Giáo Hoàng Piô XI tiếp kiến. Gặp vị cha chung của Hội Thánh hoàn vũ, vị đại thần người Việt dâng lên Đức Thánh Cha thỉnh nguyện gồm 4 nội dung chính yếu: xin thống nhất sách giáo lý và kinh nguyện; xin ấn định ngày kính chung các chân phước tử đạo Việt Nam; xin cải tổ việc đào tạo chủng sinh; đặc biệt xin lập hàng giáo phẩm bản xứ và cho người Việt được học ở trường Truyền giáo Roma.
Những đề nghị ấy, về sau đã trở thành nền tảng cho nhiều quyết định quan trọng của Tòa Thánh, trong đó có việc thúc đẩy đào tạo linh mục người Việt và mở đường cho việc đặt cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng trở thành vị giám mục tiên khởi người Việt Nam năm 1933. Có thể nói, trong hành trình hình thành hàng Giáo phẩm Việt Nam, cụ Nguyễn Hữu Bài là một giáo dân đã âm thầm góp một viên gạch rất quan trọng.

Cụ Nguyễn Hữu Bài, Đức cha Allys Lý, Đức cha Gouin và linh mục Morineau Trung tại Đại hội La Vang lần thứ 9
Ngày 23.5.1925, Đức Thánh Cha Piô XI bổ nhiệm Đức Tổng Giám mục Constantino Ayuti làm Khâm sứ thường trực đầu tiên của Tòa Thánh tại Việt Nam. Sau vài tháng do dự, Đức Khâm sứ đã quyết định đặt trụ sở tại Huế. Tòa nhà được xây cất nhờ sự quyên góp tiền của Thượng thư Nguyễn Hữu Bài. Chính Thượng thư đã hiến đất và giúp đỡ cho Dòng Đức Bà Việt Nam từ những ngày đầu thành lập ở Phước Sơn, xây dựng nhà thờ và chăm lo đời sống đức tin cho các cộng đoàn mới. Tấm lòng bác ái của cụ còn được thể hiện qua việc thành lập Sở Dục Anh tại Phước Môn năm 1924 để nuôi dưỡng trẻ em mồ côi. Câu đối do chính cụ viết trên cổng Sở Dục Anh, vẫn nguyên giá trị:
“Con thiên hạ một bầy còn đó,
Của thế gian ngàn vạn xá chi”.
Hai câu ngắn gọn nhưng phản ánh đầy đủ triết lý sống của một người coi của cải chỉ là phương tiện để phục vụ tha nhân. Một chi tiết ít người biết là chính gia đình cụ cũng trở thành vườn ươm ơn gọi. Người con gái út là Mẹ Aimée Marie Nguyễn Hữu Thị Tài từng là bề trên Đan viện Cát Minh Huế và Đan viện Cát Minh Bình Triệu.
Lịch sử thường ghi nhớ những người làm nên các sự kiện lớn, nhưng cũng có những con người bền bỉ gieo những hạt giống âm thầm. Họ cũng là người góp phần tạo nên nền móng lâu dài. Cụ Nguyễn Hữu Bài thuộc về mẫu người ấy – một mặt xây dựng công trình vật chất, mặt khác, vun đắp những giá trị tinh thần, lòng yêu nước, đức tin, tinh thần phục vụ cộng đồng.
Sau khi rời quan trường, cụ trở về Phước Môn, tiếp tục cầu nguyện và nâng đỡ Giáo hội. Cụ qua đời ngày 28.7.1935 tại tư thất ở Bến Ngự – Huế, hưởng thọ 73 tuổi (tư thất này hiện là trụ sở dòng Thánh Tâm, đường Phan Đình Phùng, phía sau Tòa Tổng Giám mục Huế). Đức cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn chủ sự lễ quy lăng đưa linh cữu cụ về an táng tại quê nhà Phước Môn, trên ngọn đồi thông reo bốn mùa.
Hùng Luân
- Bậc cha mẹ và phương tiện truyền thông
- Các nữ tu Công giáo với sáng kiến phục vụ công ích
- Các Nữ tu Bác ái giúp phụ nữ ở Camerun chống lại nghèo đói, mại dâm và bệnh tật
- Các GM Hoa Kỳ kêu gọi các lãnh đạo thế giới cam kết đẩy nhanh quá trình khử carbon
- Giải đáp thắc mắc cho người trẻ – Tình yêu thực sự là gì?















