3. Đền thánh Anê Lê Thị Thành và kiến trúc kế thừa

Bước sang thế kỷ XXI, mong muốn kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc tiếp tục được tiếp nối trong một khuynh hướng mà chúng tôi tạm gọi là kiến trúc kế thừa. Những công trình thuộc khuynh hướng này mang tinh thần Việt Nam nhưng thích nghi với kỹ thuật xây dựng và vật liệu hiện đại, dung hòa giữa cũ và mới. Trong phạm vi giáo phận Thanh Hóa, công trình tiêu biểu thuộc khuynh hướng này là Đền thánh Anê Lê Thị Thành, tọa lạc tại phường Quang Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Hình 3.2.1 – Đền thánh Anê Lê Thị Thành (2).jpg (762 KB)
Đền thánh Anê Lê Thị Thành

3.1 Thánh Anê Lê Thị Thành

Anê Lê Thị Thành là người phụ nữ duy nhất được phong hiển thánh của Giáo hội Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại. Bà sinh năm 1781 tại làng Bái Điền (nay là thôn Bái Đền, xã Hà Long, tỉnh Thanh Hóa). Cha mẹ thánh nhân chỉ sinh được hai người con gái là bà và một người em tên Thuộc. Do muốn sinh con trai nối dõi, cha bà đã lấy thêm vợ lẽ. Thấy chồng mình lỗi đạo, mẹ thánh nhân đã đưa hai con về quê ở thôn Đồng, làng Phúc Nhạc (nay thuộc xã Khánh Nhạc, tỉnh Ninh Bình). Ba mẹ con sống nhờ việc buôn bán nhỏ, tuy không khá giả nhưng cũng đủ ăn qua ngày.

Năm 17 tuổi, bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Nhất là người cùng làng. Ông bà có với nhau sáu mặt con: hai người con trai tên Đê và Trân, còn bốn người con gái là Thu, Năm, Thiên và Nụ. Theo phong tục địa phương, cha mẹ thường được gọi theo tên người con cả. Chính vì thế mà thánh Anê Lê Thị Thành còn được biết đến với tên gọi thân thuộc là bà thánh Đê. Gia đình bà nổi tiếng vì đời sống đạo đức và lòng bác ái, quảng đại, thường giúp đỡ các linh mục và giáo dân trong thời kỳ Công giáo bị bách hại.

Năm 1841 (Thiệu Trị nguyên niên), trong thời kỳ cấm đạo, có bốn vị linh mục đến trú ẩn tại làng Phúc Nhạc, cũng là giáo xứ Phúc Nhạc thuộc giáo phận Phát Diệm. Trong số đó có hai thừa sai ngoại quốc là cha Berneux (Nhân) và cha Galy (Lý), cùng hai linh mục Việt Nam là cha Thành và cha Ngân. Cha Berneux ở nhà ông tổng Thức, cha Galy ở nhà ông trùm Cơ, cha Thành ở nhà bà Đê, còn cha Ngân thì lưu trú ở một nhà khác trong làng. Cha Thành có một người giúp việc tên Để (hoặc Đễ). Không rõ vì lý do gì, người này đã tố cáo với quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh rằng làng Phúc Nhạc có “Tây dương đạo trưởng”, tức là các linh mục ngoại quốc.

Lễ Phục Sinh năm 1841 (các tài liệu hiện nay ghi ngày 14/4 nhưng Chúa nhật lễ Phục Sinh năm đó là 11/4), quan quân bất ngờ kéo đến vây thôn Đồng, phong tỏa từ xóm Lý đến xóm Giữa, từ ngõ Vực đến ngõ Tây. Bấy giờ, hai cha Thành và Ngân đang dâng lễ ở nhà ông đội Tựu nằm ngoài vòng vây, còn hai cha Berneux và Galy thì dâng lễ ở nhà ông tổng Thức phía trong vòng vây. Quan truyền cho toàn bộ đàn ông trong làng ra chợ Nhạc để điểm danh rồi giữ họ lại đó, đồng thời sai lính đi lục soát từng nhà. Biết mình khó thoát, cha Berneux vẫn tiếp tục dâng lễ một cách bình thản.

Lễ xong, ông tổng Thức lo sợ hai cha bị bắt trong nhà sẽ liên lụy đến gia đình nên đưa cha Berneux sang ẩn trong bếp của một nhà lẻ thuộc dòng Dòng Mến Thánh Giá Yên Mối nằm bên cạnh. Nơi ẩn nấp vốn khá kín đáo, nhưng vì vạt áo thò ra ngoài nên cha bị quân lính phát hiện. Hai nữ tu tên Thanh và Khiêm đang lẩn trốn ngoài bờ tre thấy cha bị bắt thì bật khóc nên cũng bị bắt theo. Trong khi đó, cha Galy theo ông trùm Cơ chạy từ nhà này sang nhà khác, nhưng không ai dám chứa vì sợ bị liên lụy. Khi đến nhà bà thánh Đê, cha được dẫn xuống nấp trong bụi tre phía sau nhà. Đúng lúc bà và người con gái út tên Nụ đang lấy rơm phủ lên người cha thì quân lính ập đến. Chúng bắt cả cha Galy lẫn bà thánh Đê, rồi xông vào nhà cướp bóc. Sau đó, hai cha Berneux và Galy, vợ chồng bà thánh Đê, cùng chị Thanh, chị Khiêm và nhiều người khác bị giải về nhà lao Nam Định. Bà thánh Đê tuổi cao sức yếu, không thể mang nổi gông cùm nên phải nhờ người khác dìu đỡ trên đường áp giải.

Tại Nam Định, ba người phụ nữ là bà thánh Đê, chị Thanh và chị Khiêm bị gọi ra công đường cùng một lúc. Quan ép họ “quá khóa”, tức là bước qua thánh giá để chối bỏ đức tin, nhưng cả ba đều cương quyết từ chối. Quan sai lính lôi qua thì bà thánh Đê nằm sấp xuống đất. Quan nổi giận, truyền đánh đòn và tra tấn. Dù bị hành hạ đến mức máu chảy chan hòa, đức tin của cả ba vẫn không hề suy suyển. Cuối cùng, quan cho nhốt họ vào phòng kín có thả rắn độc để uy hiếp nhưng cả ba chỉ ngồi yên cầu nguyện nên lũ rắn đã không làm hại đến.

Năm ấy, bà thánh Đê đã tròn 60 tuổi, thể lực vốn suy yếu, lại phải chịu nhiều đòn roi tra tấn nên dần kiệt quệ rồi lâm bệnh. Ngày 12.7.1841, bà trút hơi thở cuối cùng trong trại giam. Quân lính dùng giẻ tẩm dầu đốt cháy ngón chân để kiểm tra xem bà chết hẳn hay chưa, rồi đem thi hài chôn tạm tại pháp trường Bảy Mẫu. Đến tháng 11 cùng năm, gia đình đến xin đưa thi hài về an táng. Về sau, vào tháng 4 năm 1881, di hài của bà được cải táng và đưa về đặt tại Đền thánh Phúc Nhạc cùng 7 vị tử đạo khác.

Hình 3.3.2 – Khám thờ Thánh Gia trong Đền thánh Anê Lê Thị Thành.jpg (714 KB)
Khám thờ Thánh Gia trong Đền thánh Anê Lê Thị Thành

 

3.2 Kiến trúc kế thừa

Kiến trúc truyền thống Việt Nam đã hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử. Qua mỗi thời kỳ, các công trình lại mang những đặc điểm riêng về bố cục, kết cấu và trang trí. Tùy theo công năng và mục đích sử dụng, không gian kiến trúc cũng được tổ chức theo nhiều cách khác nhau. Tất cả những yếu tố ấy đã tạo nên một kho tàng di sản phong phú, cung cấp nguồn cảm hứng và chất liệu đa dạng để các thế hệ sau lựa chọn kế thừa và phát huy.

Sự kế thừa ở đây được hiểu là tiếp nối và phát triển những đặc điểm kiến trúc của các thời kỳ trước, đồng thời thích nghi với điều kiện kỹ thuật, nhu cầu sử dụng và thẩm mỹ hiện thời. Kế thừa không phải là phục dựng nguyên trạng hay giả cổ, mà là sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo vốn văn hóa sẵn có của dân tộc. Nhờ đó, những công trình mang tính kế thừa vừa duy trì được mạch phát triển liên tục của văn hóa bản địa, vừa đáp ứng được những yêu cầu của đời sống. Tính kế thừa được thể hiện trên nhiều phương diện như bố cục, kết cấu, vật liệu, hình tượng, trang trí…, không nhất thiết phải là tất cả.

Trong kiến trúc Công giáo tại Việt Nam, tính kế thừa thường đi cùng với sự giao thoa văn hóa. Những nguyên tắc về không gian và biểu tượng của nhà thờ Công giáo được kết hợp với kết cấu, hình thức và vật liệu địa phương, tạo nên các công trình vừa tiếp nối truyền thống của Giáo hội, vừa phản ánh đặc trưng văn hóa bản địa. Vì thế, nếu hiểu theo nghĩa rộng, rất nhiều công trình ở Việt Nam có thể xem là mang tính kế thừa. Tuy nhiên, trong phạm vi của bài viết này, khái niệm “kiến trúc kế thừa” được sử dụng theo nghĩa hẹp, tức là chỉ bao gồm những công trình được xây dựng từ nửa sau thế kỷ XX, sử dụng vật liệu hiện đại như bê tông cốt thép, xi măng, thạch cao…, hình thức gợi nhớ đến kiến trúc truyền thống. Những công trình kiến trúc theo khuynh hướng kế thừa thường dễ trở thành tâm điểm tranh luận vì không đủ “Tây” để công chúng nhận ra ngay một nhà thờ Công giáo, nhưng cũng chẳng đủ “Ta” để có thể xem như một công trình truyền thống. Những cuộc tranh luận như thế thường không dẫn đến một kết luận chung cuộc, nhưng lại vô tình gợi lên một vấn đề của văn hóa Việt Nam.

Khi đánh giá bằng lăng kính của triết lý Âm – Dương thì người Việt chúng ta có một nền văn hóa âm tính, nghĩa là một nền văn hóa ưa chuộng sự ổn định, thích những thứ quen thuộc và bảo toàn cảm giác gần gũi. Một nền văn hóa như thế thường có khả năngtự vệrất tốt trước những yếu tố bên ngoài tương đối ổn định. Nhưng chính tâm quen đứng về phía những thứ thân quen, thuận mắt, đã gắn bó từ lâu… đã tình sinh ra phản ứng bài xích cả những thứ cổ xưa lẫn những đặc trưng mới hình thành. Để rồi, trong chúng ta có những người lên án cả áo dài cách tân lẫn áo giao lĩnh, bài trừ cả sư tử lẫn chó đá, chê bai cả đầu đao cong vút lẫn ngói bằng…

Nhưng ổn định không có nghĩa là bất biến. Trong suốt tiến trình lịch sử, tùy theo từng giai đoạn, điều kiện và nhu cầu cụ thể mà văn hóa Việt Nam đã không ngừng biến đổi và sản sinh ra những biểu hiện mới. Cái mới không phải lúc nào cũng triệt tiêu cái cũ, hoàn toàn thể tồn tại song song trong cùng một nền văn hóa. Chẳng hạn như lúc áo dài cách tân ra đời thì áo dài kiểu cũ, áo tứ thân, áo bavẫn tồn tại; lúc hình tượng rồng thời Nguyễn trở nên phổ biến với sừng và mũi to thì đâu đó hình tượng rồng thời Lý – Trần uốn lượn như một dòng chảy vẫn được lựa chọn để tái hiện… Tất cả đều là một phần của kho tàng văn hóa Việt Nam, bất kể niên đại hay nguồn gốc.

Khả năng dung hợp và tiếp biến một cách đáng ngạc nhiên của văn hóa Việt Nam đã tạo điều kiện cho những yếu tố đối lập cùng tồn tại trong một đối tượng duy nhất mà không bị hòa tan. Điển hình là những ngôi nhà thờ xây dựng theo khuynh hướng kế thừa. Trong cùng một công trình, có thể nhận ra bố cục hình chữ thập và không gian phát triển theo chiều sâu kiểu Âu, đồng thời nhìn thấy những ô cửa sổ hình chữ thọ (), mái đầu đao cong vút và hoa văn trang trí kiểu Á. Những công trình như vậy không chỉ cho thấy khả năng dung hợp, mà còn góp phần làm giàu thêm diện mạo văn hóa. Dầu vậy, sự kết hợp các yếu tố đối lập cần được tiến hành một cách khéo léo, sáng tạo để tránh tạo nên một sản phẩm chắp vá, rời rạc và thiếu tính thẩm mỹ.

Hình 3.1.1 – Đài thánh Anê Lê Thị Thành.jpg (841 KB)

 

3.3 Đền thánh Anê Lê Thị Thành

Thoáng nhìn qua với cảm quan của một người miền Nam, thật dễ để lầm tưởng Đền thánh Anê Lê Thị Thành là một công trình của Cao Đài (Đại đạo Tam kỳ Phổ độ). Cảm quan này đến từ sự kết hợp đặc biệt giữa hình khối của một ngôi nhà thờ kiểu Gothic và những họa tiết trang trí gần gũi với truyền thống Việt Nam. Đây cũng là đặc điểm của kiến trúc Cao Đài, với hình khối của phương Tây và ngôn ngữ tạo hình của phương Đông.

Xét về tổng thể hình khối, Đền thánh Anê Lê Thị Thành phát triển theo chiều dọc, đậm tinh thần kiến trúc Âu châu. Mặt tiền Đền thánh được tổ chức thành một tháp trung tâm, hai bên và phía trước là ba tháp phụ thấp hơn, tạo thành bố cục quen thuộc của nhà thờ Gothic dạng một tháp chính với mặt bằng dài và hẹp. Bốn tháp đều có tiết diện vuông, phía trên lợp ngói vảy cá, kết thúc bằng đầu đao cong vút với các hoa văn hình gợn sóng. Trên đỉnh tháp trung tâm là thánh giá, phía dưới có phù điêu thánh Anê Lê Thị Thành mặc áo tứ thân, vấn khăn như một người phụ nữ miền Bắc. Hai tháp phụ hai bên đặt tượng thiên thần thổi kèn. Trên đỉnh tháp phụ phía trước là tượng Tổng lãnh thiên thần Micae, bên dưới là phù điêu Chúa Chiên Lành. Mặt hông của các tháp là những ô cửa sổ lớn với hoa văn cách điệu hình chữ thọ. Bao quanh công trình là hệ lan can trang trí hoa mặt trời tám cánh kiểu Tây Nguyên, với thánh giá ở trung tâm.

Không gian bên trong được xử lý theo hướng giản lược, sáng sủa, gần với tinh thần của nhà thờ hiện đại. Nổi bật trên nền tường sơn màu vàng nhạt là cung thánh bằng gỗ, cùng các khám thờ, bục giảng và bàn thờ được sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo. Phù điêu sơn màu ở hai bên lại có một ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt, chưa hòa hợp với tổng thể vật liệu và màu sắc của gian cung thánh. Điều này làm giảm ý đồ tập trung thị giác vào cung thánh bằng gỗ, một thủ pháp thường thấy và rất thành công trong những ngôi nhà thờ cổ.

Khám thờ thánh Anê Lê Thị Thành nằm bên tả cung thánh. Bên dưới khám thờ là biểu tượng tử đạo với cây thánh giá đặt trên hai nhành lá vạn tuế bị xiềng xích bao quanh. Ở đây, nữ thánh được khắc hoạ dưới hình hài một người phụ nữ trẻ, mặc áo tứ thân màu nâu và vấn khăn, trông hiền hòa gần gũi như một người dân quê thuở trước. Đối xứng bên hữu là khám thờ Thánh Gia, phía dưới chạm nổi bộ đồ nghề thợ mộc gồm cưa, đục và ke vuông, gợi nhắc đến nghề nghiệp của thánh Giuse. Đáng chú ý thay vì sắp xếp theo phương ngang như các tượng thánh gia thường gặp, tượng đây được tạo hình theo chiều dọc với Thánh Giuse đứng sau cùng, giữa là Đức Mẹ phía trước là Chúa Giêsu – dưới hình hài một thiếu niên. Cử chỉ đặt tay lên vai người phía trước của nhóm gợi lên cảm thức nâng đỡ chở che, diễn tả tình cảm gia đình một cách giản dị sâu sắc, không đơn thuần tỏ mình ra với các tín hữu như mẫu tượng thường thấy. Đứng trước tượng Thánh Gia của Đền thánh Anê Lê Thị Thành, người giáo dân khó lòng vội bước đi. Chính tình cảm gia đình ẩn chứa trong bức tượng đã chạm đến tâm hồn người chiêm ngắm. Mong rằng cách diễn tả đầy nhân bản và gần gũi này sẽ được nhân rộng, nhất là trong các gia đình Công giáo. Để mỗi giờ kinh tối, khi đứng trước mẫu tượng này, mỗi người có thể nhận ra mình trong đó, cảm nghiệm Kinh Thánh và ôn lại cách yêu thương nhau một cách đời thường mà thắm thiết.

Nhìn tổng thể, Đền thánh Anê Lê Thị Thành đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong việc dung hòa hình khối nhà thờ Âu châu với yếu tố truyền thống Việt Nam, trên nền vật liệu hiện đại, dù không gian nội thất vẫn còn thiếu sự đồng điệu giữa các thành phần tạo hình. Có thể kỳ vọng trong tương lai, công trình sẽ được điều chỉnh để đạt tới sự hài hòa trọn vẹn hơn, xứng đáng với vai trò một Đền thánh và trung tâm hành hương của giáo phận.

KỲ PHONG

Tắt quảng cáo [X]