ĐỂ GIÚP NGƯỜI TRẺ ĐỐI DIỆN VỚI KHỦNG HOẢNG CỦA SỰ TUYỆT VỌNG

Lm. Roger Landry

WHĐ (08.5.2023)Hôm 13. 02. 2023,
Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh của
Hoa Kỳ (CDC – Centers for
Disease Control
) đã công bố bản Báo cáo Xu hướng và Tóm tắt Dữ liệu khảo sát
Hành vi rủi ro của
Thanh thiếu niên giai đoạn 2011-2021 trong đó cho thấy tình trạng sức khỏe tâm thần và tâm linh
của học sinh trung học tại Hoa Kỳ thực sự đáng báo động và đang xấu đi nhanh
chóng.

Báo cáo ghi nhận rằng
42% thanh thiếu niên trung học năm 2021 cho biết họ cảm thấy buồn bã hoặc tuyệt
vọng dai dẳng, 22% nghiêm túc cân nhắc việc tự tử vào năm trước, 18% đã lên
kế
hoạch cụ thể về việc tự tử
, và 10% thực sự đã cố gắng thực hiện kế hoạch
đó (và rất may là không
thành
công
).

Những con số đáng lo
ngại này
càng tăng hơn nữa
khi tỉ lệ đối với các trẻ nữ thậm chí còn cao hơn, với
57% nữ sinh trung học thường xuyên cảm thấy buồn
bã hoặc tuyệt vọng
(so với 29% ở nam sinh); 30%
có ý định tự tử (so với 14% ở nam sinh) và 24% có kế hoạch tự tử (so với 12% ở nam
sinh
).

Ngoài ra, sự gia tăng nhanh chóng về sự buồn bã dai dẳng và ý định tự tử nơi trẻ nữ tuổi teen cũng gây sửng sốt: Từ năm 2011, nỗi buồn dai dẳng và tuyệt vọng
đã tăng từ 36% lên 57%, ý định tự tử tăng từ 19% lên 30% và có
kế
hoạch tự tử tăng từ 15% lên 24 %, tăng 60% trong mỗi phạm
trù trong
một thập niên. (Trong cùng khoảng thời gian
này,
sự buồn bã
kinh niên ở nam sinh trung học đã tăng từ 21%
lên 29%, ý định tự tử tăng từ 13% lên 14% và có
kế hoạch tự tử tăng từ 11% lên 12%).

Phần lớn các bình luận trên phương tiện truyền thông về những con số trong bản Báo cáo của CDC tập trung vào những gì đã
thay đổi đối với các trẻ
nữ từ năm 2011 dẫn đến những xu hướng đáng lo ngại
như vậy. Hầu hết sự chú ý tập trung vào sự gia tăng và tác động của mạng xã hội
đối với sức khỏe tâm lý của trẻ nữ, cụ
thể là sự “so sánh và tuyệt
vọng
” xảy ra khi trẻ nữ loay hoay để tự mình vượt qua những thay đổi cơ thể của tuổi dậy thì, khi nhìn
thấy những
hình ảnh đẹp của bạn bè đồng trang lứa, của người
nổi tiếng
, và của người khác còn của mình thì hoàn toàn tương phản.

Đồng thời, sự ra đời của mạng xã hội cũng tương ứng với sự bùng nổ của việc các
trẻ
nữ tuổi teen bắt đầu tự nhận diện mình
là nam
bị mắc kẹt trong cơ thể nữ, vượt xa những thiếu nữ
và phụ nữ ở các nhóm tuổi khác cũng gặp phải tình trạng nhầm lẫn giới tính
tương tự hoặc các trẻ
nam tuổi teen tự nhận mình là nữ. Bản báo cáo giải thích tại sao phải đẩy mạnh nghiên cứu một cách trung thực và dũng cảm về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng sức khỏe tâm
thần đang gia tăng nhanh chóng nơi
các trẻ nữ.

Nhưng bức tranh lớn
hơn cũng cần
được lưu tâm không kém: Con số đáng kinh ngạc của
những người trẻ
, 42% nói rằng họ thường xuyên tuyệt vọng và
không hạnh phúc
; 22% đã từng nghiêm túc cân nhắc việc tự tử
trong 12 tháng qua. Trong năm trước
, 40% học
sinh trung học nói rằng họ cảm thấy buồn bã
hoặc tuyệt vọng đến độ không
thể tham gia các hoạt động thường xuyên trong ít nhất 2 tuần
.

Đây là một cuộc khủng
hoảng mà
chẳng thể được giải quyết thỏa đáng bằng thuốc
chống lo âu. Một điều
gì đó lớn hơn rất nhiều đang diễn ra.

CDC đã xem xét một số
yếu tố có thể là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, nhưng lưu ý rằng, trong suốt
thập niên qua, tình
trạng bắt nạt, sử dụng ma túy, bạo lực tình dục đều
giảm hoặc giữ nguyên. CDC cũng lưu
tâm đến ý thức kết nối của học
sinh ở trường, tình hình tại
nhà, và giao tiếp với gia đình của
họ, nhưng không có tình huống nào trong số này liên quan đến vấn đề khủng hoảng
sức khỏe tâm thần đang gia tăng nhanh chóng.

Rõ ràng là có một sự
khủng hoảng về niềm
hy vọng tiềm ẩn bên trong sự buồn bã dai
dẳng và ý định tự
tử. Điều này có liên quan đến sự khủng
hoảng về ý nghĩa, về lý
do tại sao” sống, và về đâuđộng lực để có thể thay đổi hoàn cảnh của mình nên tốt
hơn, đấy
chưa kể đến việc thay đổi môi trường và lối sống của mỗi người sao cho
thích hợp hơn
.

Sự khủng
hoảng về
niềm hy vọng này có liên quan đến sự khủng hoảng về đức tin. Thế hệ Z, những
người sinh từ năm 1999 đến 2015, đang bị suy giảm niềm tin vào Thiên Chúa một
cách nhanh chóng. Từ năm 2010, số học sinh trung học thực hành tín
ngưỡng đã giảm 27%. Hiện nay 13% được xác định là vô thần và
16% theo thuyết bất khả tri.

Trong thông điệp Spe
Salvi
về Niềm hy vọng Kitô giáo ban hành năm 2008, Đức Bênêđictô XVI đã mô tả tình trạng tuyệt vọng như Thánh Phaolô đã đề cập đến trong thư gửi tín hữu Ephêsô, khi nối
kết những người sống “
không có hy vọng” với những người sống “không
có Thiên Chúa ở
trần gian” (Ep 2, 12).
Theo
Đức Bênêđíctô XVI, niềm hy vọng đến từ việc nhận ra rằng Thiên Chúa ở
cùng chúng ta trên trần
gian này, mang lại điều tốt lành từ
điều dữ, mang lại công bằng
cho các nạn nhân, giúp chúng ta tìm thấy ý
nghĩa vĩnh cửu ngay
trong những hoạt động bình thường nhất. Thất bại
trong việc truyền đạt đức tin một cách hiệu quả cho các thế hệ trẻ, và sự trỗi
dậy của chủ nghĩa thế tục với thuyết
vô thần thực dụng, vốn
thúc đẩy người ta sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu, chắc chắn đang tiếp
tay cho cuộc khủng hoảng nơi người trẻ của
chúng ta.

Cũng thế, sự khủng hoảng đa diện của gia đình cũng là nguyên nhân góp phần cho sự khủng hoảng của người
trẻ
. Tổn thương của việc ly hôn, sự
vắng mặt của dung
mạo người cha, sự cô đơn do có ít
anh chị em hơn khiến những người trẻ cố gắng kết bạn bên ngoài gia đình, sự
cạnh
tranh để
giành tình yêu và sự chú ý với người bạn gái/bạn trai mới của bố/ mẹ, đều có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng về cảm
giác được yêu thương
cách
chân thành
và bền vững. Việc được yêu thương vô điều kiện và vững chắc là nguồn vui đích thực, là nguồn hy vọng giữa những
thất bại và mâu thuẫn.

Nhận thức của người trẻ
về tình yêu đó không phải là điều hiển nhiên, nhất

khi họ đang phải
vật lộn để có thể yêu bản thân cách đích
thực
trong khi trải nghiệm những thay đổi nhanh chóng bên trong và xung quanh mình.

Như Đức Gioan Phaolô
II đã từng nói:

Con người không thể sống
mà không có tình yêu. Con người vẫn là một hữu
thể mà chính mình cũng chẳng thể hiểu thấu
đáo
, cuộc sống của con người
sẽ
trở nên vô nghĩa, nếu người ta không nhận được mặc khải về tình yêu, không gặp được tình yêu thương, không trải nghiệm tình yêu, không biến tình yêu thành của mình, và không dự phần vào tình yêu một cách mật thiết” (Thông điệp Redemptor Hominis, 10).

Các loại thuốc gây nghiện mang tính văn hóa tiêu thụ của chủ nghĩa duy vật và
khoái lạc có thể khiến
chúng ta xao lãng nhu cầu cơ bản về tình yêu của con người nhưng chỉtạm thời chứ không phải là mãi mãi. Nỗi buồn, sự tuyệt vọng và ý định tự tử của người
trẻ là tiếng kêu tuyệt vọng đối với tình yêu liên
đới giữa
những vấn đề mang
tính hiện sinh và cấp bách của họ.

Cũng cần phải huấn luyện
cho
người trẻ biết đối diện một cách tích cực với những đau khổ không thể tránh khỏi mà cuộc
sống mang lại
. Chúng ta thường
có thể cố gắng bảo vệ trẻ em khỏi đau khổ, bao bọc
chúng
bằng những tiện nghi vật chất, và
giữ chúng tránh xa những bất trắc bao nhiêu có thể.

Động lực này thường
ngay lành, nhưng những tác dụng phụ ngoài ý muốn có thể xảy ra, đó là người trẻ ngày nay không có dịp trải nghiệm về những giai đoạn khó khăn, thiếu thốn, thử thách về nhiều
phương diện mà
những thế hệ trước đã trải nghiệm. Trên thực tế, nhiều người trẻ ngày nay không được huấn
luyện tại
trường học của thử thách, đau khổ, do đó, khi những nỗi đau về tinh thần và cảm xúc ập đến,
không được trang bị đầy đủ, họ đã không thể rút ra kinh
nghiệm về sự kiên trì để

thể can đảm
vượt qua những nỗi
đau
ấy.  

Về phương diện văn hoá,
thay vì giúp
người trẻ trưởng thành hơn qua sự khôn ngoan
này, nhiều người lại
đã gây ra sự nhầm lẫn khi cổ
xúy cho quyền được tự tử
, tôn vinh nó như một sự lựa chọn xứng đáng, cao cả
để đối phó với đau khổ
, chính điều này đang gây ra tác hại khôn lường.

Thay vì nhận ra tự tử là một điều xấu xa, một tiếng kêu cứu về lòng trắc ẩn, là một
vấn đề về sức khỏe tâm thần và cách kiểm soát cơn đau hiệu quả, một bi kịch mà
chúng t
a đang cố gắng ngăn chặn, thì người ta lại cho rằng tự tử là một điều tốt
cho những cá
nhân đang gặp bất kỳ loại đau đớn nào, một điều có lợi cho gia đình và bạn bè khi trút
bỏ được gánh nặng phải
quan
tân
, và một
điều tiện
dụng cho xã hội khi
tiết kiệm được chi phí chăm sóc sức khỏe
, và sự lây nhiễm sự trầm cảm của họ. Phong trào về quyền được chết tuyên bố rằng
đôi khi cuộc sống không đáng sống, và chắc
hẳn những
tuyên
truyền về chủ nghĩa cá nhân, về quyền
tự quyết
, và về nỗi sợ bị phụ thuộc đã ảnh
hưởng không
ít đến giới trẻ?. Do đó, vì tình yêu thương dành cho người trẻ cũng như bất
kỳ ai khác bị cám dỗ tự tử, chúng ta phải mạnh mẽ và kiên trì phản đối chất độc
văn hóa này.

* * *

Khi đọc thông tin về bản báo cáo của CDC tại Hoa Kỳ, cho dù có những
khác biệt về văn hoá, về lối nghĩ, về lối sống, … nhưng có lẽ cũng là dịp
để chúng ta suy tư, phản tỉnh đối với những tình huống có thể xảy
ra cho giới trẻ của chúng ta.

– Liệu những
thanh thiếu niên, nhất là các trẻ nữ, của chúng ta có gặp phải những thách đố
như vậy chăng?

– Nếu có, thì đâunguyên nhân của các xu hướng đáng lo ngại ấy?

– Nếu có, thì làm sao để chúng ta có thể nhận biết, cảm
thông, đồng hành, và nâng
đỡ các em?

Hơn nữa, khi
các em phải đối diện với khủng hoảng, thì với tư cách là Kitô hữu, liệu chúng
ta có thể làm gì để quan tâm, trao đổi và
truyền đạt cho các em, một cách rõ ràng và xác tín, những lý do để tin tưởng, hy vọng, và sống ý nghĩa cuộc đời mình như
là những người được Thiên Chúa yêu thương tạo dựng giống hình ảnh của Ngài, được
Đức Kitô yêu thương cứu chuộc bằng chính cái chết và sự phục sinh của Người?

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm 
Chuyển ngữ từ: ncregister.com (02. 5. 2023)

Bài viết cùng chủ đề: