Mười tám năm tính từ năm 1947, khi tượng Đức Mẹ Fatima bắt đầu mở những cuộc thánh du đến nhiều nước trên thế giới, năm 1965, cuộc rước đã đến Việt Nam, và đó cũng là lần đầu tiên có những ngày kiệu Đức Mẹ mang tính quốc tế ở dải đất hình chữ S này.
Nếu tính luôn năm đó thì tượng Mẹ Fatima thánh du đã qua Việt Nam 3 lần, vào các năm 1965, 1974 và 2019, nhưng chuyến thánh du năm 1965 có nhiều điểm đáng nhớ, không chỉ bởi là sự khởi đầu, mà còn vì thời gian lưu lại dài nhất. Theo một số tài liệu ghi lại, dù lúc đầu được dự kiến ba tháng, nhưng do sự thỉnh cầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam và người dân, tượng đã ở lại miền Nam Việt Nam đến năm 1967. Hành trình thánh du lần đó ngoài kéo dài, còn được ghi nhận bởi quy mô rộng lớn, khi tượng Đức Mẹ được kiệu đến hàng trăm giáo xứ, dòng tu, tu viện, địa sở, cư sở…, từ Sài Gòn xuôi về miền Tây, ngược lên Cao nguyên, ra miền Trung và đều khắp miền Đông…

* DUYÊN CỚ MỞ ĐẦU HÀNH TRÌNH RƯỚC TƯỢNG ĐỨC MẸ TỪ FATIMA QUA VIỆT NAM
Lý do có cuộc thánh du này được các báo đạo ngày đó đăng tải nhiều. Đặc biệt tờ Trái Tim Đức Mẹ (một ấn phẩm báo chí cổ súy lòng sùng kính Đức Mẹ thuộc dòng Đồng Công, nay là dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc – NV) dành số lượng khá lớn tin bài đăng tải theo dòng sự kiện. Số báo ra tháng 11.1965 viết: “Ngày 2.2.1965, lễ Đức Mẹ dâng Con trong Đền thờ, nhằm đúng ngày mùng Một Tết Ất Tỵ vừa qua, để trao phó dân tộc Việt Nam cho Đức Mẹ, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã làm phép 19 cây nến sáp cao 1.5m gởi tặng hàng Giám mục toàn cõi Việt Nam. Cùng ngày đó, Đức ông Colgan – giám đốc Đạo Binh Xanh quốc tế – viết thư hô hào 20 triệu Hội viên Đạo Binh Xanh (nay được gọi là tông đồ Fatima, một phong trào giáo dân bắt nguồn từ các sứ điệp hiện ra của Đức Mẹ tại Fatima, thành lập ở Hoa Kỳ 1947) – thuộc 57 quốc gia – tận lực dâng hy sinh cầu nguyện cho Việt Nam sớm được hòa bình… Hội nghị diễn ra vào ngày 22.8.1965 đã quyết định đệ trình lên Đức Thánh Cha xin cho rước tượng Đức Mẹ Fatima sang Việt Nam. Các tham dự viên chấp thuận sáng kiến này và đề cử ông Kobert Bergin – Chủ tịch Đạo Binh Xanh ở Úc Đại Lợi – đại diện Đạo Binh Xanh quốc tế hộ tống tượng Đức Mẹ Fatima đến Việt Nam”.
Thời gian chuẩn bị sau đó thật gấp rút, thư đi tin lại giữa Fatima và Sài Gòn liên tục, ban tổ chức dự tính tượng Đức Mẹ sẽ được di chuyển bằng đường hàng không và tới Sài Gòn khoảng ngày 22-23.9.1965. Tuy nhiên, vì có sự chậm trễ của bưu điện quốc tế, nên mãi đến ngày 14.9 ở Sài Gòn mới nhận được tin. Báo Trái Tim Đức Mẹ thông tin chi tiết: “Sau khi đã được phép của giáo quyền, điện tín phúc đáp được gởi ngay đi Fatima để trả lời và xin xác định ngày giờ tượng tới Sài Gòn. Bất ngờ lúc đó là Đức cha của các giáo phận Đà Nẵng, Mỹ Tho và Nha Trang đang về Sài Gòn có việc riêng. Cha bề trên Tổng đại diện địa phận Sài Gòn liền trình bày sự việc và chương trình dự kiến của cuộc thánh du. Các ngài đều tán thành. Liền sau, cha bề trên Sài Gòn ra thông cáo về chương trình chuẩn bị, được nhật báo Xây Dựng loan tin ngày 21 và 22 tháng 9. Vừa được tin hoan hỉ này, toàn thể người Công giáo Việt Nam đã hết sức nô nức trông chờ từng ngày, từng giờ, như trời nắng ráo mong mưa. Các đoàn thể Đức Mẹ cấp tốc mở những đợt học tập chuẩn bị tinh thần xứng đáng với ơn trọng đại Mẹ ban. Qua ngày 22, 23.9, chương trình tổ chức “trật rầy”, tin tức vắng tanh, nhưng có lạ chi cảnh “con đón Mẹ mà Mẹ chưa về”. Lòng nao nức càng thêm nao nức…”.
Trong khi đó, ở chiều ngược lại, tại Fatima – Bồ Đào Nha, người phụ trách đưa tượng Mẹ sang Việt Nam đã chờ đến ngày 13.9 mà vẫn chưa có tin tức trả lời từ Sài Gòn, dầu vậy họ cũng quyết định cứ đưa tượng Mẹ sang Luân Đôn rồi qua Roma. Đến ngày 7.10.1965, ở Việt Nam mới nhận được điện tín cho biết tượng Đức Mẹ sẽ tới Sài Gòn đúng 9g40 ngày Chúa nhật 10.10.1965.

Cuộc đón rước Mẹ tại phi trường Tân Sơn Nhứt lúc bấy giờ đã được thực hiện theo thông cáo của Tòa Tổng Giám mục, rằng: “Đức Mẹ không đến với mục đích chứng kiến những cuộc nghinh đón linh đình, song Đức Mẹ chỉ đến để quan sát tận tấm lòng chúng ta những công cuộc cải thiện đời sống”. Bởi đó mà cuộc đón rước Đức Mẹ rất đơn giản, do chính cha bề trên địa phận làm chủ sự, được các báo đạo lúc bấy giờ miêu tả sống động: “Từ 7 giờ sáng Chúa nhật 10.10, đoàn thể các xứ lân cận kéo đến tập trung tại Công trường Hòa Bình. Ra phi trường chỉ có các đoàn xe. Tại phi trường, về phía giáo quyền, người ta nhận thấy có Đức Khâm sứ Angelo Palmas, cha Tổng đại diện địa phận Sài Gòn. Tượng Đức Mẹ cao lối 1.1m. Dung nhan trông rất dịu hiền. Thân mình hơi nghiêng, giơ hai cánh tay mềm mại như muốn xoa dịu hết ngay mọi vết thương của một đoàn con. Qua phòng danh dự, Đức Mẹ ngự lên xe hoa trang trí bằng vải trắng nõn với những bông huệ trắng tinh, hương trầm nghi ngút”.
* ĐỨC MẸ ĐI QUA CÁC MIỀN ĐẤT VIỆT
Lòng sùng kính Đức Mẹ đã thu hút đông đảo giáo dân tại Sài Gòn tề tụ về Vương Cung Thánh Đường Đức Bà. “Tượng Đức Mẹ vừa xuất hiện tại Công trường Hòa Bình thì hàng vạn giáo dân khắp khu trung tâm và những miền phụ cận như Bình Dương, Hóc Môn, Thủ Đức, Biên Hòa, Hố Nai, Gia Kiệm, Vũng Tàu – vốn đã tập trung từ sáng sớm – hết sức hân hoan vui sướng, muôn con tim như một. Muôn tiếng hoan hô vang dậy, tỏ lộ hết tâm tình thảo mến, cậy trông đến tột độ như chưa từng có. Tiếng kèn đồng cũng trổi lên hùng tráng trang trọng, nhịp cho muôn lòng thêm vô cùng phấn khởi dạt dào. Đồng thời, bộ chuông trên tháp cao của Vương Cung Thánh Đường dồn dập từng hồi vang lên trầm hùng, uy linh và thảnh thót, như hiệu cho hết mọi tiếng chuông trong các thánh đường khắp địa phận Sài Gòn reo lên mừng Mẹ. Hơn ngàn trái bóng duy chỉ có hai màu xanh – trắng: trắng như tà áo Mẹ, xanh tượng trưng cảnh thanh bình, mang bốn chữ NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH, từng loạt vun vút tỏa bay lên bầu trời trong sáng” – đây là những dòng miêu tả trong bài “Tượng Đức Mẹ Hòa Bình từ Fatima sang Việt Nam” của tờ Trái Tim Đức Mẹ, số ra tháng 11 năm 1965.
Theo chương trình, tượng Đức Mẹ sẽ lưu lại Sài Gòn hết ngày 14.10.1965 để mọi tầng lớp con cái Mẹ thay phiên nhau bày tỏ tâm tình. Người ta còn nhớ suốt mấy đêm ngày, nhất là vào dịp 13.10.1965, Vương Cung Thánh Đường trở nên nhà Mẹ của giáo phận hơn bao giờ hết, vì luôn có đông người lui tới. Sau ngày 14.10, tượng đến viếng thăm các tu viện, bệnh viện, dưỡng đường, viện cô nhi, trại giáo huấn… ở Sài Gòn và các vùng xung quanh, rồi tuần tự xuống Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, lên cao nguyên và các địa phận miền Trung, mỗi nơi trung bình một tuần.
Chiều 21.10.1965, tượng Mẹ được kiệu về Long An và ngày 23.10 tới Mỹ Tho. Ngày 28.10, hành trình nối tiếp đến các điểm Thủ Ngữ, Tín Đức, An Đức, Long Định, Cái Bè…, đem niềm yên ủi, cậy trông cho đoàn con nơi xa xôi và hẻo lánh lúc bấy giờ. Ngày 29.10, Mẹ thánh du đến Kiến Hòa và ngày hôm sau từ đây lên trực thăng sang địa phận Vĩnh Long. Lộ trình tiếp nối ở Cần Thơ ngày 5.11; điểm nhấn khó quên ở Cần Thơ là có các thánh lễ liên tiếp suốt ngày đêm trong thời gian Mẹ ngự tại nhà thờ Chánh tòa. Từ ngày 7.11, Mẹ thánh du đến Sóc Trăng, Hải Yến, Cà Mau, Chương Thiện. Ngày 12.11, Mẹ tới Long Xuyên. Tượng Mẹ quay trở lại Sài Gòn vào ngày 18.11 và sáng ngày hôm sau được đưa đến phi trường Tân Sơn Nhứt, bắt đầu cuộc thánh du miền Trung.

Tại sân bay Phú Bài – Huế, đoàn người đông đảo đã chờ sẵn đón tượng Mẹ. Cũng báo Trái Tim Đức Mẹ, số tháng 1+2 năm 1966, tường thuật quang cảnh: “Lúc ấy, chuông trên tháp các nhà thờ cố đô đồng loạt đổ từng hồi, reo lên thánh thót, đem niềm vui tràn ngập núi Ngự sông Hương. Sau khi ngự tại thảo xá (do nhà thờ Chánh tòa Phủ Cam đang kiến thiết), Mẹ cần đem ngay tình thương vào bệnh viện, trại cùi và lao xá, rồi tới nhận lễ tôn vinh cực kỳ long trọng tại đền thờ Đức Mẹ Cứu Giúp”.
Vài ngày sau, tượng Mẹ đã thánh du đến nhiều nơi như Đền thánh La Vang, các vùng của tỉnh Quảng Trị ở phía Nam sông Bến Hải, rồi trở về Huế, Đà Nẵng. Tại Đà Nẵng, Đức tân Giám mục địa phận Xuân Lộc Giuse Lê Văn Ấn dẫn đầu đoàn đi đón Đức Mẹ. Hành trình của Mẹ tiếp nối đi Hòa Cường, An Hòa, Nội Hà, Sơn Trà, Mỹ Khê, Nhượng Nghĩa…; rồi đến Quảng Ngãi, xuống Qui Nhơn. Tại Qui Nhơn, cuộc rước kiệu Mẹ đến nhiều địa sở, nhà thờ, nhà dòng. Một chiếc phi cơ đã đến Qui Nhơn và rước tượng Mẹ lên Kon Tum, sau đó thánh lễ đồng tế tôn kính Mẹ được cử hành trang nghiêm tại công trường nhà thờ Chánh tòa Kon Tum. Tượng Mẹ được kiệu đến tận các buôn làng, đi Pleiku, Phú Bổn, Ban Mê Thuột…, ở lại Ban Mê Thuột lâu hơn dự kiến vì trời mưa nhiều, đến ngày 23.12.1965 mới qua giáo phận Đà Lạt. Đêm Giáng Sinh 1965 ở Đà Lạt, người ta chứng kiến một đoàn rước kiệu Chúa Hài Đồng và Đức Mẹ qua các con phố trước khi về nhà thờ Con Gà. Thánh lễ đại trào được cử hành trong Đêm Thánh vô cùng đông người. Vài ngày sau thì tượng Mẹ được cung thỉnh xuống Bảo Lộc. Từ ngày 4.1.1966, Đức Mẹ thánh du trong giáo phận Nha Trang, đến các tu viện, giáo xứ, địa sở, Tòa Giám mục…. Ngày 12.1, tượng đi qua các vùng thuộc giáo phận Phú Cường. Tại Tây Ninh, tôn giáo bạn Cao Đài cũng tham gia đón rước tượng Mẹ rất thành kính. Giáo phận Xuân Lộc sau đó được đón Mẹ khi mùa Xuân về. Cụ thể ngày 19.1.1966, nhằm 28 Tết, tượng Mẹ đến miền đất này, bắt đầu từ hạt Phước Lý rồi lần lượt là Biên Hòa, Tân Mai, Hố Nai, Gia Kiệm, Long Khánh, Phước Lễ, Long Hương, Vũng Tàu… Ngày 26.1.1966, tượng Mẹ quay lại Sài Gòn để đi Tràm Chim (Đồng Tháp Mười). Ngày 1.2.1966, tượng về lại địa phận Sài Gòn thăm các dòng tu, họ đạo… Hành trình Đức Mẹ thánh du tại Sài Gòn rất dài, trải qua nhiều nơi cho đến ngày 13.5.1966 – dịp kỷ niệm Đức Mẹ hiện ra lần thứ nhất ở Fatima – mới quay về Vương Cung Thánh Đường Đức Bà, kết thúc nhiều tháng cung nghinh Đức Mẹ qua bao nhiêu miền đất.
Chúng tôi không tìm ra chính xác ngày tượng Đức Mẹ Fatima rời khỏi Việt Nam, nhưng đọc thấy một số tài liệu ghi thánh tượng còn lưu lại ở Việt Nam một thời gian dài nữa, và đã được một đoàn Việt Nam đưa sang Bồ Đào Nha trước dịp hành hương kỷ niệm 50 năm ơn phúc Fatima 1917-1967. Quả là một hành trình thánh du “vô tiền khoáng hậu” của tượng Đức Mẹ Fatima với tín hữu tại Việt Nam.

|
Bức tượng Đức Mẹ Fatima nguyên bản do điêu khắc gia José Ferreira Thedim thực hiện năm 1919, với hình ảnh Ðức Maria hiền hậu trong y phục trắng, chắp tay trước ngực, được khắc từ bản phác họa Mẹ theo lời kể của chị Lucia, một trong số 3 mục đồng được nhìn thấy Mẹ hiện ra. Ngày 13.6.1920, lần đầu tiên tượng Ðức Mẹ Fatima xuất hiện trước các tín hữu, trong cuộc rước kiệu ở Fatima. Tượng được chính thức lưu giữ ở nhà nguyện Hiện Ra – địa điểm có cây sồi nơi Ðức Maria đã xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1917. Thực tế, bức tượng Mẹ Fatima “gốc” rất hiếm khi ra khỏi Trung tâm Thánh Mẫu Fatima, nhưng trung tâm có nhiều bức tượng khác, là bản sao từ mẫu gốc hoặc có vài nét khác biệt, để đáp ứng các cuộc thánh du trên khắp thế giới. Chẳng hạn năm 1947 đã có hai bức tượng Đức Mẹ Fatima được làm phép vào ngày 13.5 và 13.10, với các điểm khác nhau như sau: tượng Mẹ Fatima Trái Tim Vô Nhiễm có hình trái tim Mẹ – là bức tượng đã qua thăm miền Nam Việt Nam từ 1965 cho đến 1967; tượng còn lại chắp tay như nguyên bản, thường thánh du qua các xứ vùng châu Mỹ. Ngoài ra còn có nhiều bản sao khác, cũng từ Fatima, được rước kiệu đi nước này nước khác. |
MINH HẢI
- Các nữ tu Nữ tỳ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội giúp đỡ người dân Ucraina trong chiến tranh
- Tản mạn đời tu nhân Ngày Quốc tế Đời sống Thánh hiến (02.02)
- Câu chuyện hoán cải của Djamel Guesmi nhờ đóng vai thánh Phanxicô Assisi
- Trao nhân phẩm cho người khuyết tật của tổ chức Los Angeles Habilitation House
- Đường xa có “quới nhơn” phù trợ















