Đại hội Hành hương Đức Mẹ La Vang bước vào dấu mốc lần thứ 32. Trong hành trình dài từ kỳ Đại hội đầu tiên năm 1900 đến nay, có nhiều dấu ấn khó quên, hoặc những sự kiện, câu chuyện, con người, thành tựu… đi vào lịch sử phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam. 

THỜI GIAN TỔ CHỨC ĐẠI HỘI

Nhìn lại 32 lần Đại hội – tính đến năm 2026 này – có thể thấy chu kỳ tổ chức đã nhiều lần thay đổi, phản ánh bối cảnh lịch sử, xã hội và đời sống của Giáo hội Công giáo Việt Nam qua từng giai đoạn: có cả lý do chiến tranh, lý do thời cuộc, và cả bởi đại dịch hay những nguyên nhân khách quan khác.

Đại hội đầu tiên được tổ chức năm 1900, sau đó diễn ra tương đối đều đặn với các năm 1904, 1907, 1910 và 1913, dần hình thành truyền thống hành hương quy mô lớn tại La Vang. Giai đoạn tiếp theo, từ năm 1917 đến năm 1938, chu kỳ tổ chức có phần linh hoạt hơn, không đóng khung hẳn 3 năm một lần, mà vào các năm 1917, 1919, 1923, 1928, 1932, 1935 và 1938. Khoảng cách giữa các kỳ dao động từ hai đến năm năm, cho thấy Đại hội vẫn được duy trì nhưng uyển chuyển thích ứng với những biến động của tình hình đất nước và Giáo hội. Đại hội lần 9 năm 1928 gắn với sự kiện khánh thành thánh đường La Vang mới.

Sau Đại hội năm 1938, có quãng gián đoạn dài khi phải đến năm 1955 mới tổ chức trở lại, tức 17 năm. Từ 1955 đến 1964, Đại hội diễn ra khá ổn định trong các năm 1955, 1958, 1961 và 1964. Kỳ Đại hội lần thứ 15 năm 1961 có nghi thức xức dầu Đền thờ, khi nhà thờ La Vang được Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII nâng lên thành Tiểu Vương Cung Thánh Đường. Tuy nhiên, sau Đại hội lần thứ 16 năm 1964 thì lại bị ngắt quãng sáu năm, năm 1970 mới có Đại hội 17; và tám năm sau, năm 1978 mới tổ chức Đại hội thứ 18. Bước sang giai đoạn từ 1978 đến 1993, chu kỳ tổ chức dần ổn định hơn, dù đôi lần gặp khó khăn, có những Đại hội không có giám mục chủ sự, và chủ yếu là giáo dân trong TGP Huế tham dự; từ năm 1993 đến năm 2017 (lần thứ 31), các Đại hội ngày càng quy mô, mở rộng, thu hút đông đảo tín hữu trong và ngoài nước, khẳng định vị thế của La Vang là Trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc.

Đặc biệt, có một Đại hội không theo chu kỳ và không được đánh số, đó là Đại hội Năm Toàn Xá Đức Mẹ La Vang ngày 1.1.1998, kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra trên miền đất này (1798-1998); sau đó là Đại lễ kỷ niệm trong ba ngày 13,14 và 15 tháng 8.1998. Ngoài ra, cũng có một kỳ Đại hội không tổ chức ba ngày giữa tháng 8 (dịp lễ Đức Maria Lên Trời) như truyền thống, mà diễn ra vào các ngày 4,5 và 6 tháng 1.2011. Đó là kỳ Đại hội lần thứ 29, nhân dịp bế mạc Năm Thánh 2010 – Kỷ niệm 50 năm thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam – với sự hiện diện của Đức Hồng y Ivan Cornelius Dias, Tổng trưởng Bộ Truyền giáo lúc bấy giờ – Đặc sứ của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, và đầy đủ các giám mục Việt Nam đang tại vị. Trước đó, vì chiến tranh, cũng từng có một kỳ Đại hội không chính thức, tất nhiên là cũng không đánh số, diễn ra bên ngoài Linh địa La Vang nhưng vẫn cung nghinh thánh tượng Đức Mẹ La Vang, vào năm 1952. Theo sách Linh địa La Vang của linh mục Xitanilaô Nguyễn Văn Ngọc xuất bản năm 1970, khoảng giữa năm 1952, sau 14 năm vẫn chưa thể tổ chức Đại hội (kể từ kỳ Đại hội lần thứ 12 năm 1938), được sự chấp thuận của Đức Giám mục Huế đương thời là Đức cha J.B.Urrutia (Thi), một vài linh mục ở vùng Dinh Cát đã tìm cách đưa tượng Đức Mẹ La Vang ở Linh địa về thị xã Quảng Trị cho giáo dân cầu khẩn xin ơn hòa bình cho dân tộc. Tượng được rước tới nhà thờ Thạch Hãn, sau đó Đức cha Thi ra thông báo sẽ làm Tam nhật kính Đức Mẹ vào các ngày 10,11 và 12.9.1952. Sách viết: “Lễ khai mạc ngày 10.9.1952 diễn ra bằng một cuộc rước tượng Đức Mẹ La Vang từ nhà thờ Thạch Hãn đến nhà thờ Cổ Vưu, có trên hai ngàn người tham dự. Hôm sau lại có 16 toa xe hỏa đưa các giáo hữu Huế và Đà Nẵng ra dự ngày thứ hai – ngày đền tạ. Giáo dân luân phiên chầu Mình Thánh Chúa suốt đêm ngày tại Cổ Vưu. Ngày bế mạc, Đức cha Thi cử hành lễ Đại triều, sau lễ có cuộc rước kiệu Đức Mẹ La Vang qua các đường phố của thị xã Quảng Trị, dài 5 cây số, với ước chừng hai vạn giáo hữu…”.

Đại hội  La Vang lần 31  được tổ chức gần đây nhất vào năm 2017 .jpg (884 KB)
Kỳ đại hội La Vang lần 31 được tổ chức gần đây nhất vào năm 2017

Từ Đại hội lần thứ 31 năm 2017, chu kỳ tổ chức một lần nữa có sự gián đoạn, khi Đại hội lần thứ 32 được cử hành vào năm 2026, sau thời gian chín năm, tính từ Đại hội 31. Trong năm 2020, lý ra sẽ có Đại hội lần thứ 32 nhưng vì đại dịch Covid; còn năm 2023 không tổ chức, theo Tòa TGM Huế, bởi “lý do khách quan”, và thay bằng một Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Miền Trung. Nhìn tổng thể, lịch sử các lần Đại hội La Vang dù khoảng cách giữa các kỳ có lúc ngắn, lúc dài, nhưng vẫn được duy trì liên tục qua hơn một thế kỷ nay, trở thành một biểu tượng bền vững của đời sống đức tin và sự hiệp thông của người Công giáo Việt Nam. Trong những năm giữa hai kỳ Đại hội, dù không có nhiều chương trình phong phú và số người tham dự không đông bằng kỳ Đại hội chính thức, nhưng vào dịp giữa tháng 8, La Vang vẫn có một số hoạt động và thánh lễ trọng thể, quy tụ không ít các giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân từ khắp nơi cùng về nhà Mẹ; giáo dân trong TGP Huế và người ngoài Công giáo ở địa phương gọi là “kiệu nhỏ” (năm thường) và “kiệu lớn” (năm có Đại hội).

Đại hội La Vang lần thứ 32 diễn ra từ ngày 13-15.8.2026, với chủ đề “Đức Maria, người loan báo Tin Mừng”

logo và chủ đề Đại hội lần thứ 32.jpg (121 KB)
Logo và chủ đề Đại hội lần thứ 32

NGƯỜI ĐẦU TIÊN TỔ CHỨC HÀNH HƯƠNG LA VANG

Theo tài liệu của TGP Huế về La Vang thì sau sắc lệnh do vua Tự Đức ban hành năm 1862, chính thức bãi bỏ lệnh cấm đạo và chính sách phân sáp (đày ải, chia cắt giáo dân ra các làng lương dân), những giáo dân trước đó trốn chạy hoặc bị tù đày còn sống sót… dần trở về giáo xứ của mình. “Tại giáo xứ Cổ Vưu, Trùm hạt P.X Lê Thiện Thìn hồi cố hương với hai chữ “Tả Đạo” trên má. Bấy giờ ông đã 57 tuổi, trở thành cánh tay đắc lực của giáo xứ, giúp cha sở Desvaux (cố Đề) và các linh mục quản xứ. Mùa Chay năm 1864, lãnh ý cha sở, Trùm Thìn tập trung khoảng 30 người hành hương La Vang. Họ khởi hành từ Cổ Vưu vào lúc rạng sáng, tay cầm gậy gộc, vừa đi vừa đánh phèng la, khua chiêng, khua trống, theo đường núi, vạch lá rừng mà đi. Đoạn đường Cổ Vưu – La Vang chỉ chừng 7 cây số, nhưng khó đi, phải mất nửa buổi mới tới nơi. Tại La Vang, họ tập trung đọc kinh cầu nguyện ở nền nhà thờ lợp tranh xưa đã bị đốt phá trong cơn cấm cách. Sau đó mỗi người tự hái lá rừng xung quanh mang về như phương thuốc thần diệu Mẹ ban. Và từ đó, ở những năm tiếp theo, giáo dân các nơi khác đến tham dự ngày càng đông, biến cuộc hành hương Cổ Vưu (cấp giáo xứ) thành cuộc hành hương Dinh Cát (cấp giáo hạt). Nhận thấy hành hương La Vang là một trong những phương thế biểu lộ lòng sùng kính Đức Mẹ tốt đẹp, vả lại, từ những cuộc hành hương này, Đức Mẹ đổ tràn ơn lành hồn xác xuống cho con cái Người, nên linh mục Phêrô Đỗ Khắc Nhơn – cha sở Cổ Vưu bấy giờ – đã vạch kế hoạch giao cho Trùm Thìn và các chức việc họ Cổ Vưu nghiên cứu thực hiện việc tổ chức hành hương La Vang mỗi năm hai lần, vào Mùa Chay và Mùng Ba Tết Âm lịch. Từ đó, đúng định kỳ, hàng trăm giáo dân Dinh Cát tập trung tại giáo xứ Cổ Vưu, từng nhóm trang bị gậy gộc đi đường, hành hương viếng Mẹ. Về sau, trong những cuộc hành hương như vậy, giáo dân cung nghinh tượng Mẹ từ Cổ Vưu vào La Vang” (Sách Hành hương Đức Mẹ La Vang – Tập 1, chương 5).

Về nhân vật P.X Lê Thiện Thìn, tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn Nhân vật Giáo phận Huế xuất bản năm 2000 – dịp kỷ niệm 150 năm thành lập giáo phận này – cho biết đây là một trong 3 Trùm hạt mà Đức cha Pellerin đặt lên sau khi Tòa Thánh thành lập giáo phận Bắc Đàng Trong ngày 27.8.1850. Lúc đó, giáo phận (sau này đổi tên thành GP Huế) được chia làm 3 hạt là Thừa Thiên, Quảng Trị và Quảng Bình, Đức cha tiên khởi Pellerin chọn 3 người có phẩm giá, biết chữ, đạo đức, khôn ngoan, từng trải việc đời, giỏi việc đạo, dày dạn kinh nghiệm và nhất là trung tín, tận tụy phụng sự Giáo hội… đứng đầu giáo dân mỗi hạt, gọi là Trùm Cả hay Câu Cả. Ông Thìn làm Trùm hạt Quảng Trị, là một thầy thuốc; hai người còn lại là ông Micae Hồ Đình Hy – Trùm hạt Thừa Thiên và ông Matthêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm hạt Quảng Bình (cả hai ông về sau đều được phúc tử đạo và là một trong 117 thánh tử đạo Việt Nam được ĐGH Gioan Phaolô II tuyên phong năm 1988 – NV). Sách Giáo hội Công giáo ở Việt Nam của linh mục Vinh Sơn Bùi Đức Sinh, OP thì cho biết ông Thìn là lương y giỏi, nổi tiếng khắp vùng Hải Lăng, Triệu Phong, ai ai cũng kính trọng và tin tưởng; vì làm thuốc chủ yếu để cứu dân nên dễ dàng đi lại làng này qua xã khác một cách quang minh mà phục vụ Giáo hội trong những năm cấm cách, cụ thể: “Tổ chức dạy giáo lý cho tân tòng và trẻ em. An ủi, khuyên răn những giáo dân đã chối đạo ăn năn trở lại. Giúp đỡ săn sóc phần xác, phần hồn cho những giáo hữu yếu liệt. Chôn xác kẻ chết. Thăm nuôi những người bị bắt vì Đức tin, đặc biệt giúp họ gặp linh mục để xưng tội, rước lễ. Sắp đặt nơi trốn ẩn cho các linh mục và đưa đón các ngài bí mật đi lại ban Bí tích cho giáo dân…” (sđđ). Hậu duệ trực hệ của ông sau này có nhiều người làm linh mục, tu sĩ…, đặc biệt có người làm đến Tổng Giám mục là Đức cha P.X Lê Văn Hồng, nguyên Tổng Giám mục TGP Huế, hiện đã nghỉ hưu. Mộ ông hiện vẫn còn ở khu vực giáo xứ Trí Bưu (Cổ Vưu xưa).

QUẢN XỨ TIÊN KHỞI CỦA GIÁO XỨ LA VANG

Sau Đại hội La Vang lần thứ 9 năm 1928 và lễ khánh thành ngôi Đền thờ mới, Đức cha Allys Lý trăn trở trước thực trạng Linh địa La Vang vẫn còn hoang vắng, thiếu người chăm sóc và chưa có linh mục thường trú. Khách hành hương từ khắp nơi về kính viếng Đức Mẹ không có điều kiện tham dự thánh lễ, lãnh nhận các bí tích; không có nơi lưu trú khi muốn ở lại cầu nguyện. Ngay cả các linh mục đến cầu nguyện hoặc tĩnh tâm cũng không có chỗ nghỉ lại. Đức cha cũng mong muốn hình thành một cộng đoàn giáo hữu sinh sống quanh Linh địa, để La Vang không còn quạnh hiu trong những ngày thường. Từ những thao thức đó, ngay sau Đại hội, Đức cha quyết định thành lập giáo xứ La Vang, trên cơ sở tách từ giáo xứ Cổ Vưu (Trí Bưu), và bổ nhiệm linh mục Phaolô Võ Văn Thới làm cha sở tiên khởi.

Nhà thờ ngói cổ được khánh thành vào kỳ đại hội La Vang lần thứ 1.jpg (98 KB)
Nhà thờ ngói cổ được khánh thành vào kỳ Đại hội La Vang lần thứ I

Tác giả Lê Ngọc Bích, cũng trong cuốn sách Nhân vật Giáo phận Huế (Tập 1) đề cập ở trên, ghi nhận linh mục Phaolô Võ Văn Thới sinh năm 1878 tại Dương Lệ Văn (Quảng Trị). Năm 1889, ngài vào Tiểu Chủng viện An Ninh, tiếp tục học tại Đại Chủng viện Phú Xuân và được truyền chức linh mục năm 1904 tại nhà thờ Chánh tòa Phủ Cam. Trước khi đến La Vang, cha Thới đã lần lượt phục vụ tại các giáo xứ Kẻ Bàng, Mỹ Duyệt, Kim Long, Tân Mỹ, để lại nhiều dấu ấn trong việc tạo lập cơ sở cũng như chăm lo đời sống giáo dân. Cha là người đứng ra xây dựng nhà thờ Mỹ Duyệt và nhà thờ Kim Long (tồn tại đến ngày nay). Khi ở giáo xứ Tân Mỹ – một làng chài nằm dọc phá Thuận An – do hằng năm mùa mưa bão thường bị sóng vỗ bờ cát phía trước làng gây sạt lở và mất đất, nên cha đã vận động người dân lương – giáo nơi đây trồng phi lao chắn sóng và giữ cát, hình thành rừng phi lao Tân Mỹ như hiện thấy; đời sống người dân lúc đó cải thiện thấy rõ, nên họ rất quý mến cha.

Còn theo báo Nam Kỳ Địa Phận số 1227, ra ngày 24.11.1932, do lòng đạo đức, tinh thần tận tụy và kinh nghiệm mục vụ sâu rộng, mà ngài được Đức cha Allys Lý tin tưởng giao trách nhiệm xây dựng giáo xứ và phát triển Linh địa La Vang. Dù chỉ ở La Vang hơn hai năm rồi lâm bệnh nặng phải về Đại Lộc dưỡng bệnh, nhưng cha đã kịp vận động tài chánh, khởi công và trực tiếp chỉ huy xây nhà khách, nhà xứ, nhà cha sở, 3 nhà ngói phục vụ mục vụ và một trường học. Thời gian nghỉ bệnh, cha vẫn luôn đau đáu với những công trình còn dang dở, mong sớm bình phục để trở lại tiếp tục công việc, nhưng cha đã được Chúa gọi về ngày 2.11.1932, hưởng dương 54 tuổi, sau 28 năm linh mục. Bất chấp mưa lũ, linh cữu của ngài được đưa về La Vang và an táng ngay phía sau nhà thờ, nơi cha đã dành những năm cuối đời để đặt nền móng cho giáo xứ và Linh địa Đức Mẹ La Vang.

NGUYỆT SAN ĐỨC MẸ LA VANG

Năm 1961, khi La Vang trở thành Trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc, Tổng Giáo phận Huế bắt đầu tái thiết Linh địa Đức Mẹ, song song với việc cho ra đời Nguyệt san Đức Mẹ La Vang, như một kênh thông tin chính thức, nhằm kết nối Linh địa với đông đảo tín hữu trên cả nước.

Bìa Nguyệt san Đức Mẹ La Vang số 1 tháng 8.1961 ảnh tư liệu của Trần Quang Chu .jpg (56 KB)
Bìa Nguyệt san Đức Mẹ La Vang số 1 tháng 8.1961 – ảnh tư liệu của tác giả Trần Quang Chu

Trong “Mấy lời phi lộ” ở số đầu tiên đề ngày 20.7.1961, Đức Tổng Giám mục Phêrô Martino Ngô Đình Thục – TGM TGP Huế thời điểm đó – đã nêu rõ mục đích bởi La Vang là tài sản thiêng liêng chung của người Việt Nam, nên tất cả có quyền được biết tiến độ xây dựng Linh địa. Vì vậy, cần có một ấn phẩm định kỳ để cập nhật những thông tin mới nhất về công trình, đồng thời khơi dậy tinh thần hiệp thông và sự cộng tác của mọi thành phần Dân Chúa. Đức Tổng Giám mục cũng ví tờ báo như một món quà nhỏ bé dâng lên Đức Mẹ. Theo ngài, cũng như một cành hoa hay một viên sỏi của trẻ thơ đều được Mẹ đón nhận bằng tình yêu, thì Nguyệt san Đức Mẹ La Vang chính là tấm lòng của những người con muốn cất lời ngợi khen Mẹ và mời gọi mọi người cùng chung tay làm đẹp ngôi nhà của Mẹ. Đối với độc giả, tờ báo không đơn thuần là một ấn phẩm thông tin, mà còn như lá thư gia đình, giúp những người ở xa biết được công việc đang diễn ra tại La Vang, để tiếp tục nâng đỡ bằng lời cầu nguyện, công sức và sự đóng góp.

Nguyệt san Đức Mẹ La Vang được xuất bản liên tục từ năm 1961 đến năm 1964, mỗi tháng một số, riêng số 7 gộp hai tháng 2 và 3 năm 1962. Trong ba năm hoạt động, đã phát hành tổng cộng 36 số, trở thành nhịp cầu gắn kết giữa Linh địa La Vang với cộng đồng tín hữu trên khắp Việt Nam. Đến số 36 (tháng 8.1964), Ban Biên tập ra “Lá thư tạm biệt”, thông báo việc tạm đình bản và bày tỏ lòng tri ân đối với sự đồng hành, nâng đỡ cả về tinh thần lẫn vật chất của đông đảo bạn đọc trong suốt ba năm hoạt động.

TEM THƯ ĐỨC MẸ LA VANG

Bộ tem Đức Mẹ La Vang phát hành năm 1962.jpg (29 KB)

Một dấu mốc đặc biệt trong quá trình lan tỏa hình ảnh Linh địa La Vang là việc phát hành tem thư Đức Mẹ La Vang vào ngày 7.7.1962. Đây được xem là lần đầu tiên trong lịch sử ngành Bưu chính ở Việt Nam, tính tới lúc ấy, hình ảnh một thánh tượng Công giáo được đưa lên tem thư. Trước đó, các mẫu tem mang chủ đề Công giáo chỉ giới thiệu các công trình kiến trúc, tiêu biểu là tem Nhà thờ Chánh tòa Phủ Cam phát hành năm 1958. Bộ tem 4 mẫu khắc họa hình ảnh Đức Mẹ La Vang – Nữ Vương Chiến Thắng trong tư thế quen thuộc: Đức Mẹ đội vương miện, khoác áo choàng rộng và dịu dàng nâng đỡ Chúa Hài Đồng; Chúa Giêsu Hài Đồng cũng đội vương miện, đứng trên quả địa cầu, dang hai tay như mời gọi mọi người đến với Mẹ Maria. Trên tem còn in dòng chữ “ĐỨC MẸ LA VANG”. Đối với giới sưu tập tem, đây là một ấn phẩm đặc biệt, có 4 màu với các mệnh giá khác nhau.

CÁC HỘI ĐOÀN SÙNG KÍNH ĐỨC MẸ

Huy hiệu Đại hội La Vang năm 1996 ảnh tư liệu TGP.Huế.jpg (41 KB)
Huy hiệu Đại hội La Vang năm 1996 – ảnh tư liệu TGP Huế

Tác giả Trần Quang Chu trong sách Trung tâm Thánh mẫu toàn quốc La Vang nhận định, La Vang với lịch sử Giáo hội Việt Nam là một hiện tượng rất lạ lùng, đáng chú ý, vì dù phải trải qua những cuộc bách hại khốc liệt dưới các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, số lượng giáo dân vẫn không ngừng gia tăng. Nếu như năm 1830, giáo phận Đàng Trong có khoảng 60.000 tín hữu, thì đến năm 1858 – thời kỳ cấm đạo gay gắt nhất – con số này đã tăng lên khoảng 82.000 người, trong đó giáo phận Huế có khoảng 25.000 tín hữu. Sự phát triển ấy gắn liền với vai trò của các mục tử trong việc tổ chức đời sống đức tin và quy tụ giáo dân vào các hội đoàn đạo đức, đặc biệt là những hội đoàn sùng kính Đức Maria, để việc cậy trông vào Thiên Chúa, qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ trở thành nguồn nâng đỡ tinh thần quan trọng. Ngay từ những ngày đầu hình thành giáo phận Huế, nhiều hình thức đạo đức bình dân đã được cổ võ như việc kính Trái Tim Đức Mẹ, kính Bảy sự Thương khó Đức Mẹ, Tuần Cửu nhật Đức Mẹ, Hội Mân Côi, Hội Trái Tim Đức Mẹ, Hội Đức Bà Phù hộ các Giáo hữu. Trong các hội đoàn ấy, Hội Đức Bà Phù hộ các Giáo hữu có sức lan tỏa sâu rộng nhất, được hình thành giữa thời kỳ bách hại, quy tụ đông đảo giáo dân từ đèo Hải Vân đến sông Gianh, góp phần củng cố đời sống đức tin và lòng yêu mến Đức Mẹ. Năm 1852, Đức cha Pellerin đã khuyến khích các linh mục tích cực hướng dẫn mọi người gia nhập hội, vì đây là nguồn mang lại nhiều ơn ích thiêng liêng. Truyền thống ấy tiếp tục được khẳng định khi Đức cha Caspar Lộc chọn Đức Bà Phù hộ các Giáo hữu làm tước hiệu chính thức của nhà thờ La Vang – danh hiệu vẫn được duy trì và tôn kính cho đến hôm nay.

TƯỢNG ĐỨC MẸ Ở LA VANG QUA CÁC THỜI KỲ

Một số mẫu tượng Đức Mẹ La Vang qua nhiều thời kỳ .jpg (2.49 MB)
Một số mẫu tượng Đức Mẹ La Vang qua các thời kỳ 

Lịch sử các pho tượng Đức Mẹ tại Linh địa La Vang phản ánh từng giai đoạn phát triển của trung tâm hành hương này, đồng thời cho thấy sự chuyển biến từ hình ảnh Đức Mẹ mang phong cách phương Tây đến mẫu tượng mang đậm bản sắc Việt Nam. Pho tượng đầu tiên được tôn kính tại La Vang xuất hiện nhân ngay Đại hội La Vang lần thứ nhất, ngày 8.8.1900, khi nhà thờ ngói La Vang được khánh thành. Dịp này, Đức cha Caspar Lộc đã cung thỉnh từ Pháp về một tượng Đức Mẹ theo mẫu Đức Bà Chiến Thắng của nhà thờ Đức Bà Paris. Tượng bằng thạch cao, sơn nhiều màu, được đặt trang trọng giữa cung thánh và trở thành hình ảnh quen thuộc của Linh địa trong nhiều thập niên đầu thế kỷ XX. Đến giai đoạn đại trùng tu La Vang vào những năm 1955-1960, cha sở Giuse Trần Văn Tường cho thay thế bằng một tượng mới, vẫn theo mẫu Đức Bà Chiến Thắng nhưng có kích thước lớn hơn, đường nét mềm mại và màu sắc thanh nhã hơn. Cùng thời gian này, Linh đài La Vang cũng được xây dựng theo đồ án của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ với biểu tượng ba cây đa bằng bê tông cốt thép, tạo nên diện mạo độc đáo cho Linh địa. Năm 1963, cha Giuse Trần Văn Tường tiếp tục cung thỉnh một tượng khác theo mẫu Đức Mẹ Ban Ơn (Đức Bà Xuống Ơn), thay thế hoàn toàn mẫu Đức Bà Chiến Thắng trước đó. Tuy nhiên, do thời tiết khắc nghiệt miền Trung khiến tượng nhanh chóng xuống cấp. Đến năm 1970, trước Đại hội La Vang lần thứ 17, một tượng Ban Ơn mới với kích thước lớn hơn được dựng lên tại Linh đài. Không lâu sau, chiến tranh đã tàn phá nặng nề khu vực La Vang, năm 1972, tượng bị mảnh đạn làm vỡ phần đầu, Tiểu Vương Cung Thánh đường gần như sụp đổ hoàn toàn, và các pho tượng trước đó, kể cả bức tượng đầu tiên năm 1900, đều bị hư hỏng hoặc thất lạc. Về sau, để duy trì việc tôn kính tại Linh đài, cha Tôma Lê Văn Cầu đã mượn tượng Đức Mẹ Nữ Vương Chiến Thắng của giáo xứ Cự Lại đưa về La Vang thay thế tạm thời. Pho tượng sơn màu trắng bạc này hiện diện trong nhiều năm, trước khi Linh địa bước sang một giai đoạn mới.

Bìa báo CGvDT số phát hành 1371 tháng 8.2002 nhân Đại hội La Vang lần thứ 26 .jpg (75 KB)
Bìa báo CGvDT số phát hành 1371 tháng 8.2002, nhân Đại hội La Vang lần thứ 26

Bước ngoặt quan trọng diễn ra vào dịp kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang (1798-1998). Với sự đồng thuận của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể giới thiệu mẫu tượng Đức Mẹ La Vang hoàn toàn mang đường nét Á Đông. Điêu khắc gia Văn Nhân thực hiện hai mẫu giống nhau và được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II làm phép tại Vatican ngày 1.7.1998. Một tượng được đưa đến Hoa Kỳ phục vụ cộng đồng Công giáo Việt Nam hải ngoại, tượng còn lại được cung nghinh về La Vang và đặt tại nhà nguyện Đức Mẹ. Cũng trong dịp Đại lễ năm 1998, một tượng khác cùng kiểu dáng được dựng lên tại Linh đài. Dầu vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, vì còn nhiều ý kiến về tạo hình và thẩm mỹ, Trung tâm Thánh Mẫu La Vang tiếp tục mời điêu khắc gia Văn Nhân thực hiện một mẫu tượng khác, hoàn thành năm 2002 và được thỉnh lên Linh đài trong kỳ Đại hội La Vang lần thứ 26, tháng 8 năm 2002. Đến năm 2011, Linh đài La Vang lại thêm một lần thay tượng, cũng mẫu cũ nhưng lần này làm bằng đá trắng Quỳ Hợp, do điêu khắc gia Võ Tấn Tánh thực hiện, theo lời mời của Đức Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể. Tượng cao 4.2m, được chế tác từ một khối đá lớn suốt sáu tháng ròng rã, hoàn thành trước Đại hội La Vang lần thứ 29. Chiều 5.1.2011, Đức Hồng y Ivan Cornelius Diaz, Đặc sứ của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, đã cử hành nghi thức làm phép. Đây chính là pho tượng Đức Mẹ La Vang mang hình ảnh người mẹ Việt Nam mà hàng triệu khách hành hương vẫn đang tôn kính và xin ơn chuyển cầu tại Linh đài cho đến hiện tại.

Minh Hải

 

Tắt quảng cáo [X]