Hơn nửa thế kỷ Hơn nửa thế kỷ qua, thành phố Hồ Chí Minh đã không ngừng phát triển và có nhiều đổi thay, đặc biệt là nhiều đường phố, khu dân cư, mảng xanh… được hình thành hoặc khoác lên những diện mạo mới, đẹp hơn và cũng hiện đại hơn. Trong những lớp “áo mới” đô thị đó, không thể không nhắc đến bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè.

Từng có thời, chỉ cần nhắc đến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, người dân thành phố không khỏi ái ngại. Dòng nước đen kịt, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, những dãy nhà ổ chuột san sát ven kênh…, tất cả từng là ký ức tưởng không dễ xóa nhòa. Nhưng hôm nay, đứng trên những tuyến đường rợp bóng cây Hoàng Sa – Trường Sa, nhìn dòng nước uốn lượn, phía trên bờ là dãi công viên kéo dài gần chục cây số, ít ai ngờ nơi đây đã trải qua một hành trình hồi sinh đầy gian nan suốt nhiều thập niên. Trong quá trình “thay da đổi thịt” này, có sự góp phần của các nhà thờ, xóm đạo dọc hai bên bờ kênh. Không chỉ là nhân chứng, bà con giáo dân còn luôn ý thức giữ gìn bộ mặt cảnh quan và môi sinh của dòng kênh vắt ngang thành phố.

knh 1.jpg (7.62 MB)
Dòng kênh “hồi sinh” song song việc xây bờ kè, trồng cây, làm đường dọc hai bên kênh

DÒNG KÊNH CỦA LỊCH SỬ ỨC

Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè là một dòng chảy tự nhiên dài gần 10km, đi qua nhiều quận trung tâm như 1, 3, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Tân Bình, là một phần lịch sử của vùng đất Sài Gòn – Gia Định. Từ xa xưa, rạch Thị Nghè đã được ghi chép trong các tư liệu như Gia Định thành thông chí, gắn liền với đời sống giao thương, phòng thủ quân sự và văn hóa sông nước đặc trưng của Nam Bộ. Đã thời, nước kênh trong vắt, cá tôm sinh sôi, ghe thuyền qua lại tấp nập. Người dân ven bờ thể hái rau, câu , sinh hoạt bình dị như một vùng quê giữa lòng đô thị. Kênh cũng từng đóng vai trò giao thông thủy quan trọng, góp phần tạo nên hình ảnhtrên bến dưới thuyềncủa Sài Gòn xưa.

Bước vào thời kỳ dân số tăng trưởng mạnh mẽ, nhiều người từ các tỉnh đổ về Sài Gòn mưu sinh hoặc tản cư do chiến tranh, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XX, kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè dần bị “bức tử”. Nước thải sinh hoạt, công nghiệp đổ trực tiếp xuống kênh, biến nơi đây thành một trong những điểm ô nhiễm nghiêm trọng nhất thành phố. Những năm 1980-1990, tình trạng ô nhiễm đạt đỉnh điểm, dòng kênh tù đọng, nước “chết”. Các chỉ số môi trường cho thấy nồng độ ôxy hòa tan gần như bằng 0 ở nhiều đoạn kênh, đồng nghĩa với việc không một sinh vật nào có thể tồn tại. Người dân sống trong khu vực vừa chịu đựng ô nhiễm, vừa thấp thỏm trước nguy cơ dịch bệnh. Nhiều người khi đi ngang qua con kênh đều phải nín thở.

Những người lớn tuổi tại giáo xứ Tân Chí Linh vẫn còn nhớ rõ một dòng kênh “xưa và nay” với hai gam màu đối lập. Ông Nguyễn Văn Thông, một giáo dân 60 tuổi, người sinh ra và lớn lên ở xứ đạo này kể rằng, thuở nhỏ, nước kênh trong đến mức có thể nhìn thấy cá bơi. Khi còn là cậu bé con, ông cùng bạn bè rủ nhau bơi lội trong dòng nước mát. Trên bờ là những ruộng rau do các hộ dân trồng, nhà cửa san sát. Nhưng rồi, theo dòng phát triển thiếu kiểm soát, con kênh dần trở nên đen đặc, bốc mùi. Rác thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi… tích tụ, biến nơi từng là nguồn sống thành “điểm đen” môi trường. Ở xứ Xóm Lách nhiều năm, tuổi thơ ông Nguyễn Bá Cường, 48 tuổi, một giáo dân sống cạnh nhà thờ nhớ về kênh Nhiêu Lộc là một dòng nước ô nhiễm, nhiều rác thải và mùi hôi nồng nặc. Dù nhà thờ khi đó không nằm sát mép kênh nhưng môi trường chung của khu vực vẫn chịu ảnh hưởng. Theo ông Cường: “Sự thay đổi của dòng kênh sau khi được nạo vét, làm kè và mở đường đã mang lại diện mạo mới cho toàn khu vực, không chỉ cải thiện cảnh quan mà còn góp phần nâng cao chất lượng đời sống của cộng đồng dân cư, trong đó có giáo dân của giáo xứ”. Cùng chung dòng ký ức, tại giáo xứ Thị Nghè, có ba giáo khu đông giáo dân sống giáp rạch Thị Nghè, ông Lưu Nguyên Khá (thành viên Hội đồng Mục vụ giáo xứ Thị Nghè) kể khi còn nhỏ, ông thường ra rạch Thị Nghè tắm; nhưng sau này, khi người dân kéo về ở ngày một đông, cất nhà ngay trên rạch, dần dần kênh bị ô nhiễm. Khi nhà nước chủ trương giải tỏa hai bên bờ kênh để chỉnh trang đô thị, lúc đầu còn có người phản đối, nhưng khi được cho biết về một diện mạo mới đẹp trong tương lai, người dân hiểu tầm quan trọng và hợp tác. 

kênh 3.jpg (217 KB)

Dòng kênh được “giải cứu” và hồi sinh bắt đầu từ trăn trở của chính quyền thành phố từ năm 1993. Đến năm 2002, dự án “Vệ sinh môi trường lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè” chính thức được thực hiện. Lãnh đạo thành phố xác định rõ là bằng mọi cách trả lại cho dòng kênh vẻ xanh sạch, đúng với giá trị thiên nhiên vốn có. Một lộ trình 5 bước được đặt ra, từ giải tỏa – tái định cư, thi công hạ tầng, nạo vét bùn thải, xây dựng hệ thống cống thu gom nước thải đến xử nước thải. Đây một trong những dự án chỉnh trang đô thị lớn và phức tạp nhất từng được thực hiện. Thống đã hơn 7.000 hộ dân với khoảng 50.000 nhân khẩu được di dời, tái định cư. Hàng triệu mét khối bùn thải được nạo vét, vận chuyển. Hơn 16km bờ được xây dựng, cùng hệ thống cống bao dài gần 9km. Suốt hơn 3.650 ngày thi công, hàng ngàn công nhân đã làm việc không ngừng nghỉ để từng bướcgiải cứudòng kênh. Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè dần mang một diện mạo hoàn toàn khác: nước kênh trong hơn, cá bơi dập dìu. Hai bên bờ là những con đường rộng rãi, thoáng mát, nơi người dân có thể đi bộ, tập thể dục, thư giãn mỗi chiều. Không chỉ người dân trong nước, nhiều Việt kiều khi trở về cũng bất ngờ trước sự thay đổi. Có người đã gọi đây là công trình “ấn tượng nhất” khi trở lại Sài Gòn sau hơn mấy mươi năm xa cách.

Sự hồi sinh của kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè không chỉ nằm ở việc cải thiện môi trường, mà còn là minh chứng cho nỗ lực lớn của chính quyền và người dân trong việc xây dựng một đô thị văn minh, đáng sống. Việc di dời, tái định cư hàng ngàn hộ dân ngoài giúp cải thiện cảnh quan, còn nâng cao chất lượng sống cho họ. Từ những căn nhà tạm bợ ven kênh, nhiều gia đình đã được sống trong các khu chung cư khang trang, ổn định hơn. Quan trọng hơn, dự án đã khôi phục lại một phần “văn minh kênh rạch” – nét đặc trưng của vùng đất Nam Bộ. Dòng kênh không còn là “vết thương” của đô thị, mà trở thành điểm nhấn cảnh quan, nơi kết nối con người với thiên nhiên.

 

kênh 6.jpg (1.58 MB)
Nhà thờ Tân Chí Linh có mặt tiền hướng ra kênh, với khoảng sân rộng mát từ sau khi kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè được cải tạo

LÀ MỘT PHẦN TRONG CÂU CHUYỆN GIỮ GÌN MÔI SINH

Có một điểm thú vị là sau khi dòng kênh hồi sinh, nhiều nhà thờ chọn quay mặt ra trục Hoàng Sa – Trường Sa, tạo nên hình ảnh rất đặc trưng: “Chuông nhà thờ vang bên dòng kênh xanh”. Khoảng cách giữa các giáo xứ dọc tuyến kênh hơn 9km thường chỉ từ 500m – 1km, đủ để hình thành một “vành đai xứ đạo liên tục”, không phải nhà thờ nào cũng nằm ngay mặt tiền hướng ra kênh. Lịch sử xa xưa kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè cũng nơi cư trú lâu đời của người Công giáo di cư từ thế kỷ XIX-XX. Các xứ đạo hình thành theo dòng kênh – trục giao thông đường thủy xưa.

Vẽ sơ đồ để dễ hình dung sự phân bố các xứ đạo bên bờ kênh, chúng tôi nhận ra   đến cả chục giáo xứ dân sống ven dòng kênh lịch sử này, như ở khu Tân Bình, Phú Nhuận cũ có xứ Tân Hòa, Tân Chí Linh; mật độ dày nhất là khu quận 3 cũ với các xứ An Phú, Bùi Phát, Phaolô 3, Công Lý, Xóm Lách; phía giáp sông Sài Gòn thì xứ Thị Nghè, Thánh Gia. Đó là chưa tính đến các xứ đạo nằm ở vị trí gần kề, có các khu xóm đông giáo dân sinh sống ven kênh như Tân Dân, An Lạc, Thái Hòa, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Tân Định… Các xứ đạo này không chỉ gắn bó về mặt địa lý – lịch sử, mà trong nhiều năm qua còn trở thành những “thành tố xã hội” tích cực trong việc bảo vệ môi trường, chăm sóc dòng kênh. Dù không phải lúc nào cũng có báo cáo chính thức riêng lẻ cho từng giáo xứ, nhưng từ thực tế sinh hoạt mục vụ của Tổng giáo phận TPHCM, dễ nhận diện một số mô hình và hoạt động tiêu biểu mang tính phổ biến và liên tục. con giáo dân hình thành nên các hoạt động trong việc ý thức gìn giữ môi sinh khu vực mình sinh sống. Khi nước trong trở lại, cá bắt đầu xuất hiện, thì cũng là lúc một câu chuyện khác âm thầm diễn ra: các giáo xứ ven kênh cùng chung tay giữ gìn thành quả ấy.

kênh 7.jpg (381 KB)
Nhà thờ Xóm Lách

Tại khu vực thuộc xứ Thị Nghè, cha sở qua các đời thường động viên giáo dân hợp tác để chấp hành pháp luật. Đặc biệt tại khu vực chợ giáp bờ kè, khi thấy không gian ngày càng sạch đẹp, nhiều tiểu thương cũng ý thức hơn về vệ sinh. Ông Lưu Nguyên Khá – thành viên HĐMV giáo xứ – cho biết, bà con giáo dân luôn chấp hành quy định nhà nước, gìn giữ và thăng tiến đời sống của bản thân cũng như đời sống chung của mọi người; các linh mục cũng luôn nhắc nhở giữ gìn vệ sinh, tiểu thương buôn bán sạch sẽ gọn gàng. Đều đặn định kỳ, thiếu nhi đến thu gom ve chai ở các gia đình, ngoài ra giáo xứ còn bố trí một thùng chứa chai nhựa, lon nước đã dùng trong khuôn viên nhà thờ.

Mối liên hệ với tuyến kênh Nhiêu Lộc ở giáo xứ Tân Hòa thì không rõ nét như một số xứ đạo khác, do phần lớn giáo dân không sinh sống trực tiếp dọc bờ kênh. Cộng đoàn chủ yếu cư trú sâu trong các hẻm khu vực đường Huỳnh Văn Bánh, nhưng ở các hoạt động bảo vệ môi trường, giáo xứ hưởng ứng các lời kêu gọi chung của Tổng giáo phận, đặc biệt luôn phát động ý thức bảo vệ môi trường theo tinh thần thông điệp kêu gọi bảo vệ môi sinh Laudato si’ của Đức Thánh Cha Phanxicô. Hoạt động nổi bật và được duy trì tương đối đều đặn tlà chương trình thu gom ve chai, phân loại rác… Nguồn ve chai thu được được dùng để gây quỹ bác ái, phục vụ các hoạt động hỗ trợ người nghèo.

Dọc tuyến Trường Sa, đoạn qua giáo xứ Tân Chí Linh, từ cầu số 2 đến cầu số 4, không khó để bắt gặp hình ảnh quen thuộc: người dân tự quét dọn, xối nước trước cửa nhà. Nhất là những nhà bán hàng quán, khi kết thúc việc bán buôn đều dọn rửa vỉa hè sạch sẽ, rác bỏ gọn gàng. Việc giữ vệ sinh đã trở thành thói quen thường trực.

Ở giáo xứ Tân Chí Linh, câu chuyện bảo vệ môi trường không phải là phong trào nhất thời, mà là một tiến trình được nuôi dưỡng lâu dài, trong sự khuyến khích qua nhiều đời mục tử. Ông Gioan Baotixita Nguyễn Văn Dung – Chủ tịch Hội đồng Mục vụ giáo xứ – nhấn mạnh đến tính hệ thống của việc giáo dục ý thức môi trường. Theo ông, từ các cha tiền nhiệm đến cha sở hiện tại, việc giữ gìn môi trường luôn được lồng ghép trong các bài giảng lễ. Chính sự nhắc nhở kiên trì ấy đã giúp hình thành một “nếp sống xanh” nơi cộng đoàn trong bao năm qua. Bên cạnh giữ gìn không gian xanh sạch đẹp, giáo xứ còn khuyến khích giảm thiểu rác thải nhựa, hướng dẫn thiếu nhi không sử dụng ly uống nước loại dùng một lần. Việc bảo vệ hệ sinh thái cũng được quan tâm bằng cách nhắc nhở người dân không câu cá ven kênh, hạn chế tình trạng dắt thú cưng phóng uế ra môi trường…

Tại giáo xứ Vinh Sơn Ông Tạ, theo ông Tạ Đình Nha – Chủ tịch Hội đồng mục vụ – thì: “Nền tảng ý thức môi trường nơi đây hình hành từ lâu, đặc biệt từ các lời huấn dụ của Đức cố TGM Phaolô Bùi Văn Đọc rồi TGM Giuse Nguyễn Năng. Những lời nhắc nhở về trách nhiệm bảo vệ “ngôi nhà chung” trong các dịp tĩnh tâm, gặp gỡ linh mục, đã được chuyển tải lại trong các bài giảng, trở thành kim chỉ nam cho toàn thể cộng đoàn tín hữu”. Điểm thú vị Vinh Sơn là tính tổ chức: Hội các Bà mẹ Công giáo phụ trách vệ sinh nhà thờ vào thứ Ba; Huynh đoàn Đa Minh đảm nhận vào thứ Sáu. Cạnh đó còn có nhóm chuyên trách chăm lo hoa kiểng trong khuôn viên. Sự phân công rõ ràng giúp việc giữ gìn môi trường cảnh quan giáo xứ không bị gián đoạn, đồng thời tạo cơ hội để nhiều thành phần cùng tham gia. Không chỉ trong khuôn viên nhà thờ, giáo dân sống ven kênh, đoạn từ cầu số 1 đến cầu số 2 (đoạn đường Út Tịch Bình) cũng ý thức rõ trách nhiệm của mình khi thực hiện nghiêm túc việc không xả rác, giữ cảnh quan xanh sạch đẹp. Khi thấy người lạ vi phạm, họ nhẹ nhàng nhắc nhở. Từ lời động viên của cha sở, bà con sống ven kênh còn tích cực tham gia vào các đợt tổng vệ sinh do địa phương phát động. Hoa kiểng, mảng xanh nơi xứ đạo, trong các gia đình cũng ngày ngày được tôn tạo, chăm sóc, như cách chung tay bảo vệ “ngôi nhà chung”.

Ở phía bên kia bờ kênh, trên đường Hoàng Sa có một số gia đình thuộc giáo xứ Thái Hòa, câu chuyện bảo vệ môi trường cũng không bắt đầu từ những khẩu hiệu lớn lao, mà khẽ khàng đi lên từ ký ức. Ông Đặng Văn Hậu, một giáo dân gắn bó lâu năm, kể về dòng kênh năm xưa với ánh mắt đầy hoài niệm với dòng nước trong vắt, đến mức có thể nhìn thấy tận đáy. Lũ trẻ trong xóm, trong đó có ông, ngày ngày rủ nhau tắm mát, bắt cá, xúc tép bằng chiếc rổ tre. Dòng kênh khi ấy không chỉ là cảnh quan, mà là một phần tuổi thơ, một phần đời sống. Giọng ông bỗng trầm lại, chùng xuống khi kể về những năm tháng dòng kinh bị ô nhiễm nặng nề, với mùi hôi thối, rác rến ken đặc. Nhưng điều ám ảnh hơn cả, có lẽ là những khi triều cường, mưa lớn, nước kênh dâng cao lên tới tận cửa sổ nhà dân… Chính nỗi ám ảnh xưa trở thành lời nhắc nhở nhẹ nhàng cho sự đẹp đẽ của dòng kênh hiện tại. Khi chứng kiến dòng kênh ngày hồi sinh, ông Hậu và bà con giáo dân Thái Hòa hiểu rằng: “Nếu không gìn giữ, những gì trong lành nhất cũng có thể mất đi”. Vì thế, việc giữ sạch bờ kênh hôm nay không chỉ là trách nhiệm của bà con tín hữu với cộng đồng, mà còn là cách gìn giữ một phần ân tình với thiên nhiên của xóm đạo.

Expand.jpeg (271 KB)
Nhà thờ Công Lý

Còn tại giáo xứ Công Lý, nơi có nhà thờ quay ra bờ kênh xanh ngay cầu Công Lý, theo lời kể của ông Phạm Mạnh Đức (76 tuổi) sống trong khu vực thì khi tuyến kênh Nhiêu Lộc ngày càng được cải thiện về cảnh quan, giáo xứ đã góp phần giữ gìn môi trường sống bằng những việc làm thiết thực. Trong khuôn viên nhà thờ, việc giữ vệ sinh, phân loại rác ở mức cơ bản và chăm sóc cây xanh, chậu hoa được duy trì, tạo nên một không gian sạch sẽ, hài hòa với tuyến đường ven kênh. Giáo xứ thường xuyên dọn dẹp, hạn chế tình trạng rác thải tồn đọng, và nhất là nhắc nhau tuyệt đối không thải rác ra kênh. Bà Đỗ Thị Mai Tuyến – thành viên Ban thường vụ ở giáo xứ An Phú – nói dân xứ mình cũng cùng quan niệm đó: “Chúng tôi sáng nào cũng gọi nhau đi bộ tập thể dục, rồi có khi ngồi ở những ghế đá dọc bờ kè ngắm cá. Thấy bờ kênh sạch đẹp, mọi người cũng không bao giờ suy nghĩ vứt rác bừa bãi. Nhiều khi đi trên đường thấy bịch rác nhỏ, mọi người cũng ý thức mang bỏ vào thùng rác”… Với bà Vũ Thị Phượng, giáo dân xứ Bùi Phát, câu chuyện giữ môi trường xanh còn là việc chú ý giữ vệ sinh chung khi dắt chó, mèo đi dạo ở bãi cỏ bờ kênh. Điều đáng nói , những việc làm này không diễn ra rầm rộ, lặng lẽ như chính đời sống đạo của cộng đồng. Không có những con số thống kê hoành tráng, nhưng sự thay đổi có thể cảm nhận rõ ràng qua từng đoạn kênh sạch hơn, từng hàng cây được chăm sóc tốt hơn, từng góc phố ít rác hơn.

*

Một vòng quanh các xứ đạo gắn bó với bờ kênh, nghe nhiều câu chuyện nhỏ về dọn vệ sinh, thu gom rác, chăm sóc bồn hoa tiểu cảnh khu dân cư, nhắc nhau phân loại rác, không câu cá… Những mẩu chuyện nơi xóm đạo các mục tử khuyến khích giáo dân “xanh hóa” không gian sống, hay các hoạt động phối hợp giữa nhà thờ với đoàn thanh niên địa phương làm sạch tuyến đường Hoàng Sa – Trường Sa, bao điều bình dị vẫn được tiếp nối kể từ ngày con kênh xanh trở lại. Bây giờ, khi đi dọc bờ kênh vào mỗi buổi sáng – chiều, người ta dễ dàng bắt gặp những cụ già thong thả tập thể dục, những gia đình đưa con nhỏ đi dạo, hay những nhóm bạn trẻ ngồi trò chuyện dưới hàng cây. Không khí trong lành, dòng nước xanh, cá tung tăng nô đùa, tất cả là minh chứng cho một hành trình hồi sinh. Giữa nhịp sống hối hả của thành phố, dòng kênh ấy vẫn chảy như một chứng nhân của quá khứ và cũng là biểu tượng cho khả năng tái sinh của một đô thị, khi con người biết trân trọng và gìn giữ những giá trị.

 Minh Hải – Hoàng Long – Bích Vân – Anh Thư thực hiện

Tắt quảng cáo [X]