15 11 X Thứ Hai Tuần XXXIII Thường Niên. (Tr) Thánh An-béc-tô Cả, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh. (1Mcb 1,10-15.41-43.54-57.62-64; Lc 18,35-43.)

Luke18_35-43.jpeg
Ảnh: ronaldraab.com

Thánh Albertô Cả qua đời tại Cologne
ngày 15 tháng 10 năm 1280, và lễ nhớ ngài là ngày giỗ của ngài. Ngài được Đức
Giáo Hoàng Grégoire XV phong chân phước ngày 15 tháng 9 năm 1622, và được Đức
Piô XII phong thánh với tước hiệu tiến sĩ Hội Thánh ngày 16 tháng 12 năm 1931.
Ngài cũng là “thánh bổn mạng của tất cả những ai chuyên nghiên cứu các khoa học
vật lý và tự nhiên” (Piô XII).

Thánh Albert sinh tại Lauingen
(Bavière), trên bờ sông Danube, khoảng năm 1206. Cha ngài là một sĩ quan cận vệ
của vua Fréderic II. Năm 1222, chàng thanh niên Albert vốn tỏ ra có nhiều đức
tính, đặc biệt óc quan sát và sự ham thích thí nghiệm, nên được gửi đến thành
phố đại học Bologne. Tại đây ngài gặp vị tu sĩ lỗi lạc Jourdain de Saxe, bề
trên tổng quyền Dòng Đaminh, biệt danh là “tiếng còi hụ của các trường học” và
ngài xin gia nhập giòng Anh Em Thuyết Giáo.

Năm 1229, tại Padua, thày nhận áo dòng
thánh Đa-minh từ chính cha Jourdain de Saxe, và cha nhận ra thày là một con người
“thực sự cao quí, cả thể chất lẫn tinh thần” (Thư gửi Diane d’Andalo).

Năm 1228, thầy Albert sống tại Cologne,
thành phố đại học, tại đây thầy vừa dạy học vừa theo đuổi việc nghiên cứu. Nhận
thấy rõ sự xâm nhập ồ ạt của khoa học Hi Lạp và Ả Rập ở phương Tây, “Thầy
Albert” là người tiên phong lao mình vào việc nghiên cứu các bản văn ─ đã dịch
sang tiếng la tinh ─ của ba “triết gia – y sĩ” lỗi lạc trong việc truyền bá tư
tưởng Aristote: Avicenne, Averroes, và Maimonide. Thế là Aristote được thánh
Albert đánh giá là “triết gia siêu hình tinh tế”, và không bị phủ nhận, trái lại
còn được chấp nhận và “Kitô hóa”. Triết học Aristote bấy giờ trở thành “nữ tì”
của tín lý Kitô giáo, vì theo Maimonide trong Hướng dẫn những người lầm lạc,
thì “suy tư triết học không mâu thuẫn với mạc khải, trái lại còn giúp hiểu mạc
khải rõ hơn.”

Từ 1245 đến 1248, thầy Albert giảng dạy ở
Paris và tiếp tục việc học hỏi và nghiên cứu, luôn luôn trung thành với việc
suy gẫm mỗi ngày một trang Kinh Thánh. Cho tới hôm nay, nhiều nơi trong thủ đô
còn gợi nhớ đến vị thánh tiến sĩ: công trường Maubert (viết tắt của chữ
Magister Albertus), đường Maỵtre-Albert… Trong số các học trò của ngài có
thánh Thomas d’Aquin, vị “tiến sĩ thiên thần” tương lai.

Cuối năm 1248, thánh Albert trở về
Cologne, tại đây ngài lập Trường Thần học Cao cấp (Studium Generale). Thánh
Thomas theo ngài làm học trò, được ngài gửi sang Pháp với lời nhắn nhủ sau:
“Bây giờ con hãy trở về Paris, vì con thông minh hơn thầy.” Có thiên khiếu hoà
giải, thánh Albert đứng ra làm trọng tài cho nhiều vụ xung đột, trong đó có cuộc
xung đột giữa thành phố Cologne với vị tổng giám mục của ngài. Năm 1254, ngài
được chọn làm bề trên tỉnh dòng Đaminh vùng Teutonie, gồm nước Đức, Alsace, Bỉ
và Hà Lan. Khi ấy ngài phát động phong trào nghiên cứu. Ngài nói với các hội
viên tu sĩ của ngài: “Anh em hãy là ánh sáng thế gian và nhà vô địch đức tin”.
Ngài cũng trông coi việc tuân giữ hiến pháp Dòng và không ngần ngại ra những
hình phạt khi cần.

Năm 1256, thầy Albert đến thành phố
Anagni thuộc quyền giáo hoàng, gần Rôma, để bênh vực trước Đức giáo hoàng
Alexandrô IV cho vụ kiện các Dòng Khất Sĩ bị tố cáo bởi các giáo sĩ “triều” cho
rằng họ là những kẻ lừa đảo khi dám kết hợp việc nghiên cứu với sự nghèo khó.
“Các ông là tai ương của thời đại mới!” nhà thần học của Paris tên là Guillaume
de Saint-Amour tuyên bố. Thánh Albert và thánh Bonaventura đáp lại: “Trái lại,
chúng tôi là niềm hi vọng cho thời đại mới!” Đức giáo hoàng xử các “khất
sĩ” thắng kiện, và phong Albert làm giám mục Ratisbonne. Nhưng đây là một
thất bại! Sau hai năm giám mục (1160-62), ngài từ chức.

Ở tuổi 60, thầy Albert tiếp tục viết các
tác phẩm và sẵn sàng cho các hoạt động truyền giáo. Năm 1263, ngài thất bại
trong cố gắng phát động cuộc thập tự chinh thứ tám trong vùng nói tiếng Đức,
sau đó ngài lại tiếp tục việc giảng dạy: ở Wurzbourg (1264), ở Strasbourg
(1267) và ở Cologne (1270). Năm 1274, là năm thánh Thomas Aquinô qua đời, thánh
Albert tham dự Công đồng Lyon, tại đây “Người phương Đông và phương Tây ─ theo
ghi nhận của vị thánh tiến sĩ – cùng nhau hát chung Kinh Tin Kính bằng tiếng la
tinh rồi bằng tiếng Hy lạp”. Năm 1277, khi giám mục Tempier của Paris kết án những
luận đề của thánh Thomas, thánh Albert trở lại Paris để biện hộ cho học trò của
mình. Thánh nhân tuyên bố về thánh Thomas Aquinô như sau: “Ngài vẫn đang sống
giữa chúng ta bằng sự uyên bác và thánh thiện của ngài.”

Những năm cuối đời, thánh Albert Cả mắc
những chứng bệnh nghiêm trọng: mắt bị mù và mất trí nhớ. Ngài luôn ở nơi cô tịch
“để cầu nguyện và ca hát”, theo lời kể của người viết sử, H. Hedford. Ngài qua
đời tại Cologne ngày 15 tháng 11 năm 1280, hưởng thọ gần 80 tuổi, để lại mọi
tài sản của mình cho các công cuộc từ thiện.

Con người đã được Thiên Chúa sáng tạo đặt
vào trong hiện hữu và cuối cùng sẽ trở về cùng Thiên Chúa trong Chúa Giêsu
Kitô. Trong thời gian chờ đợi ngày trở về này, mỗi người chúng ta phải sống như
thế nào? Chúng ta hãy đối chiếu cuộc sống chúng ta với Lời Chúa, nhưng không phải
chỉ đối chiếu, mà còn cần phải sửa chữa, vứt bỏ những gì không phù hợp với lời
dạy của Chúa.

Tin Mừng mà Giáo Hội cho chúng ta lắng
nghe hôm nay, kể lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người mù thành Giêricô. Ðây
không phải là dụ ngôn, mà là biến cố có thật. Chúng ta có thể quan sát hai thái
độ thực hành. Trước hết là thái độ của những người cản trở không cho anh mù gặp
gỡ Chúa, những người này cho rằng chỉ có họ mới được quyền đi bên cạnh Chúa. Thật
ra, trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa, trên bình diện thông ban ân
sủng, cứu rỗi, con người không thể cậy dựa vào quyền lợi của mình mà đòi hỏi
Thiên Chúa. Tất cả đều là ân sủng nhưng không của Thiên Chúa, không ai có quyền
dành lại ân sủng đó cho riêng mình.

Thái độ thứ hai chúng ta có thể nhận thấy
nơi anh mù. Ý thức thân phận của mình, anh không có gì để khoe khoang hay đòi hỏi,
nhất là đòi hỏi Thiên Chúa, mà anh chỉ khiêm tốn cầu xin: “Lạy ông Giêsu,
con vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi”. Sự mù lòa thể xác và nghèo nàn vật
chất không phải là một ngăn trở con người gặp gỡ Thiên Chúa và lãnh nhận ơn
lành của Ngài. Từ ơn lành cho thể xác mù lòa: “Lạy Ngài, xin cho tôi nhìn
thấy được”, anh mù đã tiến thêm một bước quan trọng, như tác giả Luca ghi
lại: “Tức khắc anh thấy được và theo Chúa, vừa đi vừa ca tụng Thiên Chúa.
Thấy vậy, toàn dân liền ca ngợi Thiên Chúa”. Anh mù đã sống trọn ơn gọi
Kitô của mình; anh đã thực hiện lời Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ Ngài:
“Ánh sáng của các con phải chiếu soi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những
việc lành các con làm, mà tôn vinh Cha các con Ðấng ngự trên trời”.

Ước gì Lời Chúa hôm nay thức tỉnh và giải
thoát chúng ta khỏi sự mù lòa thiêng liêng, để chúng ta luôn bước đi trong ánh
sáng của Chúa và chiếu tỏa ánh sáng ấy trước mặt mọi người.

Huệ Minh