CỦNG CỐ SỰ HIỆP THÔNG GIA ĐÌNH

LM Giuse Đinh Quang Vinh
Ban Mục vụ Gia đình – GP Đà Lạt
Thanh Xá, ngày 23/05/2023






Mục lục


TOC o "1-3" h z u I. HIỆP THÔNG TRONG HỘI THÁNH. PAGEREF _Toc143374275 h 1
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200370035000000


       1.
Sự hiệp thông trong Hội Thánh
. PAGEREF _Toc143374276 h 1
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200370036000000

       2.
Sự hiệp thông giữa các ngôi vị
PAGEREF _Toc143374277 h 2
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200370037000000


II. NGUỒN CỘI SỰ HIỆP THÔNG GIA ĐÌNH. PAGEREF _Toc143374278 h 4
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200370038000000

       1.
Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh
. PAGEREF _Toc143374279 h 4
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200370039000000

       2.
Ngôi Ba là Tình yêu phu thê
. PAGEREF _Toc143374280 h 6
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200380030000000

       3.
Tình yêu là năng lực tâm linh
. PAGEREF _Toc143374281 h 8
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200380031000000

       4.
Ơn gọi hôn nhân trong Hội Thánh
. PAGEREF _Toc143374282 h 11
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200380032000000


III. NGUYÊN NHÂN PHÁ VỠ SỰ HIỆP THÔNG.. PAGEREF _Toc143374283 h 11
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200380033000000

       1.
Tội lỗi phá hủy sự hiệp thông
. PAGEREF _Toc143374284 h 12
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200380034000000

       2.
Phi nhân vị hóa tình dục
. PAGEREF _Toc143374285 h 14
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200380035000000

       3.
Chủ nghĩa của sự hoàn hảo
. PAGEREF _Toc143374286 h 16
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200380036000000

       4.
Ba khe hở theo thánh Biển Đức
. PAGEREF _Toc143374287 h 18
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200380037000000


IV. GIA ĐÌNH TĂNG CƯỜNG SỰ HIỆP THÔNG.. PAGEREF _Toc143374288 h 20
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200380038000000

       1.
Củng cố sự hiệp thông cách cụ thể
. PAGEREF _Toc143374289 h 20
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200380039000000

       2.
Trưởng thành trong tình yêu
. PAGEREF _Toc143374290 h 24
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200390030000000

       3.
Có tự do để tình yêu thăng hoa
. PAGEREF _Toc143374291 h 28
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200390031000000

       4.
Món quà của sự không hoàn hảo
. PAGEREF _Toc143374292 h 31
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200390032000000


V. HIỆP THÔNG TRONG THINH LẶNG.. PAGEREF _Toc143374293 h 36
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200390033000000

       1.
Thinh lặng để sống hiệp thông
. PAGEREF _Toc143374294 h 36
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200390034000000

       2.
Hiệp thông trong mầu nhiệm Vượt Qua
. PAGEREF _Toc143374295 h 39
08D0C9EA79F9BACE118C8200AA004BA90B02000000080000000E0000005F0054006F0063003100340033003300370034003200390035000000


SÁCH THAM KHẢO


 

“Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban
cho con, để họ nên một như chúng ta” (Ga 17,11).

I. HIỆP THÔNG TRONG HỘI THÁNH

“Điều đầu tiên con người
tìm thấy trong đời, điều cuối cùng con người giơ tay với tới, điều quý giá nhất
người ấy có trong cuộc sống, chính là gia đình” (Adolph Kolping).
[1]

Gia đình là một cộng đồng các ngôi vị được thiết lập và sinh động do tình yêu
và được sinh động cũng do tình yêu. Bổn phận đầu tiên của gia đình là trung
thành sống thực tại của sự hiệp thông giữa các ngôi vị qua đời sống yêu thương
nhau.
“Con người không thể sống mà
không có tình yêu”.
[2]

1. Sự hiệp thông trong Hội Thánh

Do ân sủng Đức Kitô ban tặng, sự hiệp thông giữa đôi bạn được
mời gọi không ngừng lớn lên qua việc trung thành mỗi ngày với lời cam kết trao
hiến trọn vẹn cho nhau. Với thể xác, tính tình, con tim, trí tuệ, ý chí và linh
hồn, sự hiệp thông vợ chồng được nuôi dưỡng nhờ ước muốn chia sẻ với nhau toàn
thể dự phóng cuộc đời của họ, chia sẻ với nhau điều họ có và điều họ là:
“Sự nên một thân mật, nghĩa là việc hai
người trao hiến cho nhau, cũng như lợi ích của con cái, đòi hỏi đôi phối ngẫu
phải hoàn toàn chung thủy và đòi buộc nơi họ sự duy nhất bất khả phân ly”;
[3] “Điều Thiên Chúa đã phối hợp thì người ta không được phân
ly”.
[4] Sự hiệp thông vợ chồng được
mở rộng đến họ hàng ruột thịt nhờ sức mạnh tình yêu trong cộng đồng gia đình.
[5] Sự hiệp thông tự nhiên và
nhân bản được gia đình Kitô giáo bày tỏ và thể hiện một cách đặc biệt sự hiệp
thông trong Hội Thánh. Vì lẽ đó, gia đình Kitô giáo có thể và phải được gọi là
một
“Hội Thánh tại gia – Ecclesia
domestica”
.[6] Sự hiệp thông giữa các ngôi
vị trong gia đình được thể hiện qua việc chăm sóc và tình yêu dành cho các em
nhỏ, những người đau yếu, những người già cả, qua những việc phục vụ lẫn nhau
trong đời sống hằng ngày, qua việc chia sẻ của cải, chia sẻ những niềm vui và nỗi
khổ, việc khiêm nhường lãnh nhận và quảng đại trao ban, việc kính trọng và vâng
lời cha mẹ, dùng quyền bính để phục vụ, có tinh thần hy sinh cao cả,
[7] biết thông cảm, bao dung, dịu
dàng, đối thoại,
[8] tha thứ cho nhau,[9] và hòa giải với nhau vì “Bạn không thể bắt tay ai đó khi bản thân
chìa ra một nắm đấm”
(Indira Gandhi).[10]
Trong việc tái lập sự hiệp thông và hợp nhất, Bí tích Giao Hòa,
[11] cùng nhau cầu nguyện hằng
ngày là việc quan trọng nhất và ý nghĩa nhất, đọc Lời Chúa và hiệp thông trong
Thánh Thể. Trong Thánh Thể, gia đình khám phá nguồn gốc của việc hiệp thông yêu
thương, mẫu gương và mệnh lệnh:
“Hy lễ
Thánh Thể diễn lại giao ước tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh, vì giao ước ấy
đã được ký kết bằng máu của Người trên thập giá. Chính trong hy lễ của Giao ước
mới và vĩnh cửu ấy mà các đôi bạn Kitô hữu tìm được nguồn mạch tuôn trào làm
cho giao ước hôn nhân của họ được đúc khuôn từ bên trong và được sinh động bền
bỉ. Vì là sự diễn lại hy lễ tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh, phép Thánh
Thể là nguồn mạch đức ái”.
[12] “Agape lại trở thành một
tên gọi của Bí tích Thánh Thể: Trong Thánh Thể, Tình Yêu (agape) của Thiên Chúa
mang tính xác phàm đến với chúng ta, để trong chúng ta và qua chúng ta tiếp tục
thực hiện công trình của Ngài”.
[13] Từ Đức Kitô qua Hội thánh,
hôn nhân và gia đình nhận được ân sủng cần thiết để làm chứng cho tình yêu
Thiên Chúa, để sống đời sống hiệp thông,
[14]
để nên thánh.
[15] “Nếu chúng ta nói là chúng ta hiệp thông với Người mà lại đi trong bóng
tối, thì chúng ta nói dối và không hành động theo sự thật” (1Ga 1,6).
[16]

2. Sự hiệp thông giữa các ngôi vị

“Thiên Chúa yêu thương
chúng ta, chẳng phải vì chúng ta đáng yêu, nhưng vì Thiên Chúa là Tình yêu”
(C.S. Lewis).
[17]

hình ảnh của Thiên Chúa (Imago Dei),
con người được tạo dựng để yêu thương:
“Thiên
Chúa là Tình yêu
[18]
và nơi Ngài, Ngài sống mầu nhiệm của sự hiệp thông ngôi vị trong tình yêu. Khi
tạo dựng nhân tính của người nam và người nữ theo hình ảnh Ngài và liên lỉ bảo
toàn cho nhân tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như
cả khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống yêu thương và hiệp
thông
[19].
Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người”.
[20]

Củng cố sự hiệp thông[21]
trong gia đình chính là làm cho tình yêu thêm mạnh mẽ và bền vững, giúp gia
đình nên một trong đức tin, đức cậy và đức mến.
Đó là bổn phận giúp xây dựng gia đình thành cộng đoàn những ngôi vị,
hiệp thông giữa các ngôi vị (communion
personarum)
theo hình ảnh của Ba Ngôi
(Imago Trinitatis).
Nguồn mạch và sức mạnh của sự hiệp thông gia đình là
tình yêu. Sự hiệp thông với Thiên Chúa và sự hiệp thông với nhau là mục tiêu ưu
tiên của gia đình, là điều đáng để hiến dâng đời sống.
[22]
Trong gia đình, sự hiệp thông vợ chồng tạo nên nền tảng xây dựng sự hiệp thông
đối nội và đối ngoại, tạo sự trưởng thành nhân cách cho con cái và tạo sự gắn kết
với gia tộc, tạo sự
hiệp thông siêu nhiên
với Thiên Chúa và Hội thánh.
Nhờ cầu nguyện chung, sống Lời Chúa và sống
các Bí tích, cách riêng Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải
[23] mà mọi thành viên gia đình
nối kết với Chúa Kitô và được qui tụ lại với nhau trong Hội thánh duy nhất của
Thiên Chúa. Cách riêng trong Bí tích Hòa Giải, việc xưng tội riêng và xưng tội
đầy đủ cùng với việc xá giải giúp các tín hữu được giao hoà với Thiên Chúa và với
Hội Thánh. Đức Kitô đích thân nói với từng tội nhân: “Này con, con đã được tha
tội rồi” (Mc 2,5). Người nâng họ dậy và dẫn họ về hiệp thông lại với anh em.
[24]

Với sự hiện diện của Đức Trinh Nữ Maria và nơi Bí tích Thánh
Thể, Chúa Thánh Thần tiếp tục dấu chỉ tiệc cưới tại Cana khi biến đổi từ nước
thành rượu, từ thân phận yếu đuối mỏng manh thành người đầy nghị lực, khôn
ngoan, và có khả năng yêu thương.
[25] Chính nhờ mối hiệp thông
siêu nhiên đặc biệt này, gia đình Kitô Giáo bày tỏ và thể hiện một cách đặc biệt
sự hiệp thông trong Hội Thánh, được gọi là
Hội
thánh tại gia
.[26] Cốt lõi của sự hiệp thông
này không đơn giản chỉ là việc thâu tập những người bình đẳng hay cùng phẩm giá
lại mà nó xuất phát từ chính Đức Giêsu Kitô, Đấng đã hiến dâng mạng sống của
Người với tư cách là Trưởng Tử, mời gọi và kéo mọi người đến với Chúa Cha.
[27] “Tình yêu dâng hiến và hiệp thông, nảy sinh và lớn lên không chỉ trong
thân xác và huyết thống, mà còn dẫn xuất từ tình yêu của Chúa Kitô chịu đóng
đinh trên thập giá và phục sinh”.
[28]
Tham dự thánh lễ hằng ngày vì thế thật quan trọng:
“Mỗi lần tham dự Thánh lễ, bạn nghe nói về cái chết, sự phục sinh và
lên trời của Chúa, việc tha tội và bạn được rước lễ hằng ngày. Những ai bị tổn
thương sẽ tìm được sự chữa lành” (thánh Ambrôsiô).
[29]

Củng cố sự hiệp thông trong gia đình là bước nền tảng để mỗi
thành viên tiến tới đối thoại và hiệp thông với Thiên Chúa. Hiệp thông với
Thiên Chúa là ơn gọi cao quý nhất của phẩm giá con người, ý nghĩa cho sự hiện hữu
của con người xuất phát từ tình yêu và sự bảo tồn của Ngài. Con người chỉ sống
chân lý cách trọn vẹn khi tự nguyện nhìn nhận tình yêu ấy và phó mình cho Đấng
Tạo Hoá của mình.
[30]

II. NGUỒN CỘI SỰ HIỆP THÔNG GIA ĐÌNH

Củng cố sự hiệp thông trong gia đình chính là củng cố sự hiệp
nhất yêu thương trong gia đình. Với gia đình Công giáo, việc củng cố sự hiệp
thông đó có liên quan đến chính đức tin đặt nơi Thiên Chúa Ba Ngôi, nơi Đức
Giêsu Kitô và Hội Thánh của Người. Các Kitô hữu đầu tiên “chuyên cần nghe các
tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh
và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42).

1. Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đức
tin và đời sống Kitô hữu. Họ được rửa tội “nhân danh” Cha và Con và Thánh Thần,
bởi vì chỉ có một Thiên Chúa, Cha toàn năng, Con duy nhất của Ngài và Thánh Thần:
Đó là Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh. Mầu nhiệm này được soi sáng nhờ Con Thiên
Chúa nhập thể và Chúa Thánh Thần được sai đến làm cho Kitô hữu được tham dự trước
vào sự hiệp thông sung mãn của Thiên Chúa Ba Ngôi.
[31]

Sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa bắt đầu được nhận biết
qua lòng nhân hậu và yêu thương chăm sóc mọi con cái của Ngài. Truyền thống Tây
phương xác quyết sự hiệp thông đồng bản thể giữa Chúa Cha và Chúa Con, khi nói
rằng Chúa Thánh Thần
xuất phát từ Chúa
Cha và Chúa Con (ex Patre Filioque procedere)
. Theo trật tự vĩnh cửu giữa
các Ngôi Vị Thiên Chúa trong sự hiệp thông đồng bản thể, Chúa Cha, với tư cách
là “nguyên lý không có khởi đầu”, là cội nguồn thứ nhất của Chúa Thánh Thần,
nhưng còn với tư cách là Cha của Con duy nhất, thì Chúa Cha là nguyên lý duy nhất
cùng với Con của Ngài, từ đó, Chúa Thánh Thần xuất phát như từ một nguyên lý
duy nhất. Trong sự hiệp thông đồng bản thể đó, mỗi Ngôi Vị Thiên Chúa thực hiện
công trình chung theo cách đặc thù của mình trong Ba Ngôi: “Một Thiên Chúa là
Cha, mọi sự đều bởi Ngài; một Chúa Giêsu Kitô, mọi sự đều nhờ Người; và Một
Chúa Thánh Thần, mọi sự đều trong Ngài” (CĐ Constantinôpôli II, năm 553). Đặc
tính của từng Ngôi Vị Thiên Chúa diễn tả bản tính duy nhất của Ba Ngôi. Toàn bộ
đời sống Kitô hữu cũng là sự hiệp thông với mỗi Ngôi Vị Thiên Chúa mà không hề
phân biệt Ba Ngôi. Ai tôn vinh Chúa Cha, họ làm điều đó nhờ Chúa Con trong Chúa
Thánh Thần; ai bước theo Chúa Kitô, họ làm điều đó bởi vì Chúa Cha lôi kéo người
ấy và Chúa Thánh Thần thúc đẩy người ấy.
[32]

“Thiên Chúa đã sáng tạo
con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên
Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ”
(St 1,27). Thiên Chúa tự
thâm sâu trong bản thể là hiệp thông. Thiên Chúa là Tình yêu và là khuôn mẫu lý
tưởng của đời sống hiệp thông, Người đã dựng nên con người có nam có nữ, để cả
hai cùng là hình ảnh của bản tính Người.
[33]
Đôi vợ chồng yêu thương và sinh sản đích thực có thể biểu hiện được Thiên Chúa
là Đấng sáng tạo và cứu độ.
[34] “Khi con người cá nhân cũng
như xã hội đánh mất sự nhạy bén trong việc đón nhận một sự sống mới, thì những
hình thức đón nhận khác, hữu ích cho đời sống xã hội cũng bị khô héo”.
[35] Tình yêu phong nhiêu giúp họ
khám phá và diễn tả mầu nhiệm Thiên Chúa, nền tảng trong cái nhìn Kitô giáo về
Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, chiêm ngắm Thiên Chúa như là Cha, Con và Thánh Thần
Tình Yêu. Thiên Chúa-Ba Ngôi là mầu nhiệm hiệp thông tình yêu, và gia đình là
phản ảnh sống động của mầu nhiệm hiệp thông ấy:
“Thiên Chúa trong mầu nhiệm thẳm sâu nhất của Ngài không đơn độc nhưng
là một gia đình vì lẽ Thiên Chúa trong Ngài có Cha, có Con và có Yếu tính của
gia đình, tức là Tình Yêu. Trong gia đình thần linh, tình yêu này chính là Chúa
Thánh Thần”
(Thánh Gioan Phaolô II).
[36] Như thế, nguồn cội hiệp thông trong gia đình mang chính yếu tính thần
linh, “mầu nhiệm” kết hợp giữa Chúa Kitô và Hội thánh (Ep 5,21-33).
[37] Gia đình Kitô
Giáo là sự hiệp thông giữa các nhân vị, là dấu vết và hình ảnh của sự hiệp
thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần.
[38]

Như vậy, Thánh Kinh và Thánh Truyền mở ra cho chúng ta lối
tiếp cận để nhận thức về Thiên Chúa Ba Ngôi, được mạc khải bằng những nét của
gia đình:
[39] “Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, hai người trở nên một trong Chúa
Kitô. Đó cũng là Chúa Thánh Thần đã nối kết Chúa Cha và Chúa Con, nối kết Hội
Thánh với Chúa Cha và Chúa Con. Các đôi vợ chồng là dấu chỉ cho mầu nhiệm tình
yêu lớn lao này”.
[40]

2. Ngôi Ba là Tình yêu phu thê

“Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống”. Khi
định rõ sự tương tự giữa gia đình và Thiên Chúa Ba Ngôi trong hạn từ
communio personarum (hiệp thông giữa các
ngôi vị)
, Thánh Gioan Phaolô II đã chỉ rõ mối liên hệ sâu xa giữa Chúa
Thánh Thần như là Tình Yêu trao ban sự sống và phụ nữ là người đem sự sống đi
vào trần gian.
[41]

“Ba cách yêu thương trong Ba Ngôi diễn tả ba Ngôi Vị khác biệt
và tương liên với nhau: Tình yêu hiền phụ, Tình yêu con thảo, và, tôi (Marc
Ouellet) mạnh dạn gọi
Ngôi Ba là Tình yêu
phu thê
, bởi vì đây không chỉ là sự hỗ tương hai chiều nhưng ba chiều. Thánh
Thần là ngôi thứ Ba xuất hiện trong hình thái phong nhiêu, tức là như hoa trái
của sự hỗ tương giữa hai Ngôi vị kia; điều này làm cho Ngài trở nên một Ngôi vị
có yếu tính, một thành viên trong cộng đồng ba Ngôi vị và trong mối tương liên
Tình Yêu thần linh…
[42] Chúa Thánh Thần như là
nguyên mẫu (archetype = mô hình nguyên thủy) của tình yêu phu thê trong Thiên
Chúa, bao lâu Ngài là cái “Chúng ta”, khác biệt với tình yêu hỗ tương giữa Chúa
Cha và Chúa Con. Một “Chúng ta” mà trong đó Chúa Cha và Chúa Con yêu nhau trong
tình yêu phụ tử phù hợp với đặc tính ngôi vị của các Ngài, nhưng các Ngài cũng
yêu nhau với một tình yêu khác, do Ngôi Ba
thêm
vào (surplus)
; tình yêu đó làm phong phú cho mối liên hệ của các Ngài và
cho phép ta gọi sự sinh sản của các Ngài nơi Ngôi Ba là tình yêu phu thê. Thoạt
nhìn chiều kích phu thê không nằm trong mối liên hệ Cha–Con (Father-Son), mà chỉ
thuộc về Chúa Thánh Thần và không thể phát xuất từ ai khác ngoài Ngài như là
ngôi vị riêng của sự hỗ tương giữa Cha và Con. Ngoài ngôi vị riêng của sự hỗ
tương giữa Cha và Con. Ngoài Ngôi vị nhiệm sinh và Ngôi vị được nhiệm sinh, còn
có ngôi vị của sự hiệp thông–hỗ tương (reciprocity-communion). Đó là lý do tại
sao ta có thể nói rằng Ngôi vị Thánh Thần sản sinh (to produce) hoặc phát sinh
(to generate) một thặng dư (surplus) của Tình yêu trong Thiên Chúa, bổ túc cho
mối liên hệ Cha–Con bằng một sự sinh sản phong nhiêu mới, nội tại trong họ
nhưng không đồng nhất với họ; thặng dư Tình yêu này là đặc tính riêng của Chúa
Thánh Thần mà thôi.

Chúa Thánh Thần tích cực hoàn thành mầu nhiệm Nhập Thể như
Ngôi vị hiệp thông (Person-communion) hành động để phục vụ Chúa Cha và Chúa Con
và theo đuổi sự trung gian phu thê này trong hành trình Nhập Thể của Ngôi Lời
trải dài cho đến Mầu nhiệm Phục sinh của Người. Thật kỳ diệu khi chiêm ngưỡng sự
trung gian phu thê này của Chúa Thánh Thần, gây nguồn cảm hứng và đồng hành
trong sự song đối bất xứng, sự vâng phục của Đức Giêsu với Chúa Cha và sự sẵn
sàng đến vô hạn của Đức Maria với Lời Chúa. Sự hiệp thông hoàn hảo này trong sự
vâng phục của tình yêu được hoàn tất nơi chân Thập giá, khi Người Con và Người
Mẹ cùng chịu đau khổ trong cuộc Khổ nạn vì tình yêu hy lễ cứu chuộc.

Là cái “Chúng ta” được cấu thành bởi sự hỗ tương bất đối xứng
nhưng đồng bản thể của Chúa Cha và Chúa Con, Chúa Thánh Thần cho phép ta nhìn
thấy chiều kích mẫu tử của mình qua việc tuôn tràn tình yêu phu thê vốn tích cực
bồi đắp cho hai Ngôi Vị kia theo cách phụ thuộc. Thiên Chúa Ba Ngôi và Duy Nhất
là Tình Yêu quên đi chính mình: Tình Yêu ba ngôi vị xuất phát từ Chúa Cha qua
Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, một Sự Sống vĩnh cửu trong sự trao đổi vĩnh cửu
mà sự tuôn chảy của nó cấu thành mầu nhiệm vô tận của Ngài như là
Deus Semper maior – Thiên Chúa luôn lớn hơn.
Biến cố Tình Yêu hiền phụ, con thảo và phu thê này, là Ba Ngôi nội tại có thể
được nghiệm thấy trong nhiệm cục cứu rỗi mà trong đó các Ngôi Vị Thiên Chúa biểu
lộ mầu nhiệm thâm sâu của chính mình trong các tương quan Giao Ước của các Ngài
với mỗi người và toàn nhân loại trong Đức Kitô.

Chúa Thánh Thần sở hữu trong chính mình sự sống xuất phát từ
Chúa Cha qua Chúa Con. Ngài sở hữu sự sống cách chủ động–thụ động
(passively-actively) từ hai Ngôi khác và thêm vào sự sống, qua đặc tính ngôi vị
của Ngài, một sự sinh sản mang tính phu thê mới và mẫu tử tính của hiệp thông,
của sự sống mới, của sự tự do lớn hơn trong Tình Yêu. Chính vì thế mà vai trò
hướng nội
(ad intra) của Chúa Thánh
Thần và hoạt động hướng ngoại
(ad extra)
của Ngài trong Hội Thánh và trong thế giới mang dấu hiệu hài hòa, đồng nhất trong
đa dạng, tự do và nhưng không, tính sinh sản khiến Ngài xứng đáng với tước hiệu
Vinh Quang như là
Tình Yêu mẫu tử và phu
thê.

Người nữ cũng là hình ảnh của Chúa Thánh Thần, Đấng “sống và
làm phong phú” chuyển động ba chiều này: Đón nhận, trao ban và sinh sản. Cách
yêu thương của Đức Trinh nữ Maria, gắn bó mật thiết với Chúa Thánh Thần
(vai trò hiền thê), được biểu lộ trong sự
sẵn sàng của Mẹ đối với Chúa Cha
(vai trò
cô dâu)
và trong sự phục vụ vô điều kiện đối với Chúa Con (vai trò người mẹ) mà Chúa Thánh Thần đã
tượng thai trong cung lòng trinh khiết của Mẹ cũng như đồng hành trọn hành
trình Nhập thể.

Người phụ nữ tham dự vào chiều kích phu thê và mẫu tử của
Ngôi Lời và của Chúa Thánh Thần; điều này được biểu lộ qua cách họ yêu thương,
đón nhận, đặt mình làm người thứ cấp, nhưng bình đẳng trong phẩm giá và có tính
sinh sản gấp đôi”.
[43]

3. Tình yêu là năng lực tâm linh

“Tình yêu là năng lực
tâm linh bên trong làm linh hoạt và nâng đỡ con người, không thể làm cách khác
được, yêu thương nghĩa là trao ban, và món quà đặt người cho và người nhận vào
trong một sự hiệp thông mật thiết”.
[44]
Viên gạch để xây nên một gia đình hạnh phúc là tinh thần gia đình. Tinh thần
gia đình giống như nước cần cho cá vậy. Mối dây độc nhất “làm nên” gia đình là
tình yêu. Chính tình yêu là sinh tố cho đời sống muôn mặt của con người. Nhờ nó
mà người ta có thể xây dựng ngôi nhà của mình trong sự hiệp thông, tạo nên một
cái tôi giá trị. Tình yêu là chất keo thiết yếu của mọi sự hiệp thông.
[45]

“Thiên Chúa là Tình
yêu”
(Ga 4,8). Gia đình Công giáo được mời gọi phản ảnh đời sống hiệp thông
ngôi vị của Gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi.
[46]
Đặc tính tương quan của Ba ngôi Thiên Chúa thúc bách Ba ngôi ra khỏi chính mình
để yêu thương nhau cũng như yêu thương con người trong thế giới. Chính trong
tình yêu mà Ba ngôi Thiên Chúa liên kết hiệp nhất với nhau và nối dài tình yêu
Ba Ngôi này trong nhiệm cục cứu độ con người. Một cách tương tự, gia đình công
giáo được kêu gọi sống tình yêu hiệp thông hướng nội và hướng ngoại của Ba Ngôi
Thiên Chúa.

Vợ chồng yêu thương nhau, sinh sản và giáo dục con cái cho Hội
Thánh và xã hội chính là tham gia vào công trình sáng tạo của Chúa Cha, công
trình cứu chuộc của Chúa Con và công việc thánh hóa của Chúa Thánh Thần. Với cấu
trúc yêu thương có nguồn gốc từ khuôn mẫu yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi,
gia đình chỉ có ý nghĩa khi nó được hình thành từ tình yêu, nỗ lực hiệp thông
trong tình yêu và triển nở trong tình yêu. Môi trường yêu thương là môi trường
ưu việt của gia đình. Nơi đó mỗi người học được bài học mến Chúa và yêu người,
bài học của sự hiệp thông, tôn trọng, nâng đỡ và hy sinh cho nhau theo gương Đức
Giêsu.
[47] Giáo dục con cái là một
trách nhiệm nặng nề, nó không thể hoàn thành nếu không có sự chung tay góp sức
của cả vợ lẫn chồng.
“Cầm quyền trị nước
còn dễ hơn nuôi dạy bốn đứa con” (Winston Churchill).
[48]

Được thiết lập do tình yêu và được sinh động cũng do tình
yêu, bổn phận đầu tiên của gia đình là trung thành sống thực tại của sự hiệp
thông. Sự hiệp thông đòi hỏi sự bổ túc giữa hai phái tính, được nuôi dưỡng bởi
dự phóng chung, cùng đáp ứng khát vọng sâu xa trong lòng mỗi người.
[49] Noi gương Đức Giêsu xóa
mình trên thập giá, mối hiệp thông này được củng cố và phát triển nhờ tình
tương thân tương ái và nhờ sự nâng đỡ lẫn nhau trong đời sống nhân bản cũng như
đời sống đức tin. Nó đòi hỏi đập vỡ cái tôi ích kỷ để xây dựng cái chúng ta yêu
thương và hiệp thông. Mối hiệp thông trong gia đình là nhân tố quan trọng góp
phần củng cố sự hiệp thông trong gia đình nhân loại và gia đình Thiên Chúa, tức
là Hội Thánh.
[50]

“Yêu ai nghĩa là nhìn
thấy nơi người ấy hình ảnh mà Thiên Chúa đã tiền định cho người ấy” (Fyodor
Dostoevsky).
[51]

Tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với con người là mối dây liên kết bất
khả phân ly, cả hai lệ thuộc vào nhau (1Ga 4,20). Yêu người là một con đường dẫn
con người đến gặp gỡ Thiên Chúa. Thiên Chúa tự làm cho mình thành hữu hình qua
việc sai Con Một là Đức Giêsu đến thế gian (1Ga 4,9). Việc nhận biết Thiên Chúa
hằng sống là con đường đi đến tình yêu. Lịch sử tình yêu giữa Thiên Chúa và con
người bao hàm sự hiệp thông trong ý chí, tư tưởng và tình cảm sao cho ý muốn của
con người luôn trùng khớp với ý muốn của Thiên Chúa. Tình yêu đối với tha nhân
là khả thi khi nó được thực hiện trong Thiên Chúa và cùng với Thiên Chúa. Điều
này chỉ trở nên khả thể từ cuộc gặp gỡ thâm sâu với Thiên Chúa, một sự gặp gỡ
trở thành hiệp thông ý muốn và thâm nhập vào trong tình cảm. Bấy giờ tôi học
cách nhìn người khác không phải chỉ bằng con mắt và tình cảm của riêng tôi,
nhưng từ nhãn giới của Đức Giêsu Kitô. Bạn của Người là bạn của tôi. Tôi nhìn
tha nhân với đôi mắt của Đức Kitô và có thể trao ban cho họ tình yêu mà họ cần.
Việc tiếp xúc với Thiên Chúa sẽ khiến tôi nhìn người khác gần gũi và là hình ảnh
của Thiên Chúa. Loại bỏ tình yêu với tha nhân qua việc chỉ liên hệ với Thiên
Chúa để trở nên “đúng đắn”, “đạo đức” và thuần “tôn giáo”
thì đó là mối liên hệ khô héo vì không có tình yêu. Tình yêu với người lân cận
dễ dẫn đến cảm nghiệm về tình yêu Thiên Chúa. Thánh Têrêsa thành Calcutta qua
việc yêu thương tha nhân đã dẫn đến việc tiếp xúc mật thiết với Chúa Giêsu
trong Bí tích Thánh Thể và ngược lại sự tiếp xúc này trở thành hiện thực và sâu
xa trong việc phục vụ tha nhân. Mến Chúa và yêu người không thể tách rời nhau
được. Đó chỉ là một giới răn. Tình yêu mang tính thiên linh, vì từ Thiên Chúa
mà đến và giúp chúng ta kết hợp với Thiên Chúa, và trong tiến trình kết hợp
này, giúp chúng ta trở thành một “Chúng tôi”, vượt thắng mọi chia rẽ
và làm cho chúng ta nên một, để rồi cuối cùng “Thiên Chúa có toàn quyền
trên muôn loài” (1Cr 15,28).
[52]

“Sự hiệp thông được
sinh ra và luôn luôn lớn lên trong và với tình yêu. Yêu thương là trung tâm của
đời sống lứa đôi và gia đình, và như thế các đôi bạn và các gia đình là những
người xây dựng sự hiệp thông yêu thương làm nên căn nguyên và nền tảng của đời
sống xã hội, dù là cộng đoàn dân sự hay cộng đoàn Hội Thánh”.
[53]

4. Ơn gọi hôn nhân trong Hội Thánh

Kinh Thánh xác định ơn gọi hôn nhân từ việc Thiên Chúa tạo dựng
người nam và người nữ theo hình ảnh và giống như Ngài và kết thúc bằng viễn ảnh
về “tiệc cưới Con Chiên” (Kh 19,9). Hôn nhân nằm trong trong trật tự của công
trình tạo dựng và cứu độ của Thiên Chúa.

“Cộng đồng thân mật của
đời sống và tình yêu hôn nhân, đã được Đấng Tạo Hoá thiết lập và quy định những
luật lệ cho nó. Chính Thiên Chúa là tác giả của hôn nhân”
(GS 48). Ơn gọi
hôn nhân đã được khắc ghi trong chính bản tính của người nam và người nữ, như
chính họ phát xuất từ bàn tay Đấng Tạo Hoá.
Như
vậy sự cao cả của việc kết hợp trong hôn nhân có nguồn gốc thần linh.
Thiên
Chúa, Đấng đã tạo dựng con người vì tình yêu, cũng đã kêu gọi họ đến tình yêu, đó
là ơn gọi nền tảng và bẩm sinh của mọi nhân vị. Thật vậy, con người được tạo dựng
theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, Đấng chính “là Tình Yêu” (1Ga 4,8.16).
Vì Thiên Chúa đã dựng họ có nam có nữ, nên
tình yêu hỗ tương của họ là một hình ảnh của tình yêu tuyệt đối và bất diệt
Thiên Chúa dành để yêu con người.
Dưới mắt Đấng Tạo Hóa, tình yêu này là tốt,
là rất tốt. Và tình yêu này, được Thiên Chúa chúc phúc, được nhắm đến việc sinh
sôi nảy nở (St 1,28). Bằng sự trao hiến bản thân cách trọn vẹn và dành riêng
cho nhau, người vợ và người chồng hướng tới sự hiệp thông hữu thể của họ
nhằm đạt được sự hoàn thiện bản thân của nhau, để cộng tác với Thiên Chúa
trong việc truyền sinh và giáo dục những sinh mệnh mới.
[54]
Kinh Thánh đã khẳng định rằng, người nam và người nữ được tạo dựng cho nhau (St
2,18), trong bình đẳng với nhau, trợ giúp nhau (St 2,24), hiệp thông với nhau:
“Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là
một xương một thịt”
(Mt 19,6).[55]

Hôn nhân là một định chế khôn ngoan của Ðấng Tạo Hóa
nhằm thực hiện kế hoạch tình yêu của Người nơi nhân loại. Hơn nữa, hôn
nhân Kitô giáo là một bí tích:
«Ân sủng
của bí tích vừa là một ơn gọi vừa là một lệnh truyền để vợ chồng Kitô
giáo giữ lòng chung thuỷ mọi ngày suốt đời, bất chấp mọi khó khăn và
thử thách, với lòng vâng phục thánh ý Chúa cách quảng đại: “Sự gì Thiên
Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6)».
[56]

III. NGUYÊN NHÂN PHÁ VỠ SỰ HIỆP THÔNG

“Hãy học hỏi từ những
sai lầm của người khác. Bạn đâu có sống đủ lâu để phạm tất cả mọi sai lầm”
(Eleanor Roosevelt).
Hôn nhân dưới sự kiểm soát của tội lỗi đe dọa sự hiệp
thông bởi sự bất hoà, óc thống trị, sự bất trung, lòng ghen tương và sự xung đột,
những điều đó có thể đưa đến hận thù và đoạn tuyệt. Theo đức tin, sự xáo trộn
này xuất phát từ
tội lỗi. Nguyên tội,
một sự chia lìa khỏi Thiên Chúa, đưa đến hậu quả đầu tiên là chia lìa sự hiệp
thông nguyên thủy giữa người nam và người nữ.
[57]

1. Tội lỗi phá hủy sự hiệp thông

“Mỗi tội của bạn đều
làm tổn hại ai đó – bao gồm cả chính bạn” (Billy Graham).
[58]
Trước hết, tội là sự
xúc phạm đến Thiên Chúa, là cắt đứt sự hiệp thông với Ngài. Đồng thời tội làm tổn
thương cho sự hiệp thông với Hội Thánh khi phá hủy sự hiệp thông giữa con người
với nhau.
[59] Thiên Chúa muốn tạo lập sự hiệp thông trong Hội Thánh, vì vậy Hội Thánh
cũng là nguồn cội của sự hiệp thông trong gia đình Kitô giáo.
[60] Ngược lại, gia đình Kitô
Giáo bày tỏ và thể hiện một cách đặc biệt sự hiệp thông trong Hội Thánh.
[61]

“Chẳng chết chóc gì
đâu! Nhưng Thiên Chúa biết
ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở
ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3,4). Tội đầu
tiên mà con người sa ngã vào và đó cũng là tội phá vỡ sự hiệp thông và tiếp tục
phá vỡ sự hiệp thông cho đến con người cuối cùng trên trần gian:
Muốn trở nên người hoàn hảo cách dễ dàng nhất.
Cái hay khi con người bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng là để họ không còn sống cho
những ảo tưởng của mình, họ phải nhìn nhận rằng đời sống hằng ngày khiến họ
không thể tưởng mình như hoàng tử hay công chúa đang sống trong lâu đài thần
tiên chỉ có trong truyện cổ tích (Sophie Schlumberger).
[62]
Khi sự hợp nhất của nhân loại bị tội lỗi phá vỡ, Thiên Chúa lập tức có ý định cứu
độ nhân loại khi can thiệp qua những con người khiêm nhường bé nhỏ, những người
chấp nhận sự không hoàn hảo để phó mình cho sự quan phòng của Thiên Chúa.
[63] Đức Trinh Nữ Maria là thụ tạo
khiêm nhường, trinh khiết và vâng phục Thiên Chúa nhất trong mọi loài thụ tạo;
ngược lại ma quỷ là tên vô cùng kiêu căng, ô uế và nổi loạn trước Thiên Chúa.
[64] “Chỉ khi chấp nhận sự giới hạn của mình, chúng ta mới có thể hiểu điều
gì đó, trong khi nếu chúng ta nổi loạn, chúng ta vẫn còn ở lại trong bóng tối”.
[65]

“Những điều mạc khải
cho biết, kinh nghiệm riêng củ
a chúng ta cũng xác nhận. Khi nhìn vào trong
lòng, con người thấy mình bị lôi kéo về những điều sai trái, và ngụp lặn trong
muôn vàn sự dữ, vốn là những điều không thể xuất phát từ Đấng Tạo Hóa tốt lành.
Khi từ chối không nhìn nhận Thiên Chúa như nguồn gốc của mình, con người cũng
đã phá đổ sự quy hướng cần thiết về cùng đích tối hậu, đồng thời phá vỡ toàn bộ
sự hòa hợp của mình đối với chính bản thân, đối với những người khác và đối với
mọi loài thụ tạo”.
[66]

Diễm tình ca được trình bày trong Thánh vịnh 128 không phủ
nhận một thực tế đắng cay vốn ghi dấu trên toàn bộ Thánh Kinh. Đó là sự hiện diện
của đau khổ, sự ác và bạo lực có sức phá vỡ đời sống gia đình và sự hiệp thông
thân mật trong đời sống và tình yêu. Không phải là vô cớ mà diễn từ của Đức
Kitô về hôn nhân lại được đưa vào cuộc tranh luận về li dị.
[67]
Lời Chúa không ngừng chứng thực chiều kích tăm tối vốn đã được để lộ ra ngay từ
thuở ban đầu, khi mà do tội lỗi, tương quan yêu thương và trong sáng giữa người
nam và người nữ biến thành sự thống trị
:
“Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi”
(St 3,16). Mối
hiệp thông trong gia đình bị lòng kiêu ngạo, hà tiện, ganh tị, nóng giận, dâm dục,
mê ăn uống, làm biếng đục khoét và phá vỡ. Sự hiệp thông bị phá vỡ là nguyên
nhân của những đau khổ giày vò và giết chóc đẫm máu, nó trải dài qua nhiều
trang Thánh Kinh và đang diễn ra ngay trước mắt của chúng ta. Lời thú nhận đắng
cay của ông Gióp khi bị bỏ rơi đang nói lên tâm trạng của biết bao nhiêu mảnh đời
đau khổ vì chia ly:
“Anh em tôi, Người đẩy
họ xa tôi. Người quen biết coi tôi như người dưng nước lã. Hơi thở tôi khiến vợ
tôi ghê tởm, mùi hôi thối xông ra làm cho anh em tôi gớm ghiếc”
(G
19,13.17). Nỗ lực để trở về sống hiệp thông trong một gia đình, mở rộng ra một
nhân loại đại đồng luôn luôn gặp những trở ngại về một cái tôi hoàn hảo ngấm ngầm
trong lòng của con người như trong lòng người anh cả từ chối đứa em bỏ nhà cha
mẹ đi hoang.
[68] Thiên Chúa vẫn cứ luôn là
người Cha nhân hậu đến lau sạch nước mắt để con người tìm lại sự hiệp thông sau
khi họ trải qua những khủng hoảng, đau khổ bởi tự do mà họ đã chọn lựa, đã lạm
dụng.
[69] Ngay trong sự hiệp thông,
đau khổ làm cho con người dễ dàng mở ra mối liên kết với người khác, một sự
liên kết vượt qua mọi rào cản và khác biệt.
[70]
Đau khổ có thể có giá trị cứu chuộc đối với tội lỗi của những người khác khi
con người trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô và kết hợp họ vào cuộc khổ nạn
sinh ơn cứu chuộc của Người, Đấng bằng cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá của
Người đã đem lại cho đau khổ một ý nghĩa mới.
[71]

Bắt đầu bằng ơn gọi của tổ phụ Abraham, đạt đỉnh cao nơi
Giao ước mới do chính Đức Kitô thiết lập và ngang qua Hội Thánh, Thiên Chúa tái
lập sự hiệp thông bị phá hủy do tội lỗi. Khi nhập thể làm người, Thiên Chúa
kiên quyết thực hiện đời sống hằng ngày với tất cả vui buồn của kiếp người để
giải thoát con người khỏi những ảo tưởng. Hội Thánh trở nên mái nhà của sự hiệp
thông cho nhân loại: “Trên đời này, không ai phải thiếu gia đình; vì Hội Thánh
là nhà và là gia đình cho tất cả mọi người, nhất là cho những ai ‘đang vất vả
mang gánh nặng nề’ (Mt 11,28)”.
[72] Hội Thánh là gia đình của
Thiên Chúa giữa trần gian.
[73] Nơi đó, “Hễ ai kính sợ
Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được
Ngài tiếp nhận” (Cv 10,35). Nếu tội lỗi là loại vi trùng phá vỡ sự hiệp thông
thì chính sự hối cải của các trái tim và với ân sủng của Thiên Chúa thúc đẩy sự
hiệp thông của con người với nhau, với Thiên Chúa và với Hội Thánh.
[74]

“Cuộc hành trình của mọi
đôi bạn và gia đình thường rất vất vả, khó khăn và chán ngán. Trong số những sự
đe dọa và hủy diệt niềm vui của các đôi vợ chồng và gia đình, thì tội lỗi là
kinh khủng nhất: Không chỉ như giới hạn không thể tránh được cho mọi người,
nhưng tội lỗi còn là một sự hỗn loạn về luân lý. Trái tim của những đôi vợ chồng
đầy những sự cứng cỏi và tham lam. Khả năng yêu thương và trao ban, sống trong
sự hiệp thông có khuynh hướng biến mất, để cho tính ích kỷ thắng thế. Người
kia, chồng hay vợ, không còn là đối tượng của tình yêu để trao ban, nhưng là đối
tượng của ích kỷ để chiếm đoạt, sử dụng như một đồ vật. Vẻ đẹp ban đầu của phẩm
giá con người bị biến dạng. Tính ích kỷ gây chia rẽ, chống đối: Tội lỗi trở nên
nguyên nhân của việc tan rã đôi vợ chồng hay gia đình”.
[75]

2. Phi nhân vị hóa tình dục

“Khi eros (tình ái) bị
hạ giá xuống thành
sex (tình dục), trở
thành hàng hoá, thành “vật phẩm”; người ta có thể mua hay bán nó, thật vậy,
chính con người cũng trở thành hàng hoá”.
[76]
Khi tình dục bị
phi nhân vị hóa và trở
thành bệnh hoạn, nó luôn trở thành cơ hội và phương tiện cho người ta tự khẳng
định mình và thỏa mãn cách ích kỉ các ham muốn và bản năng của mình.
[77] Não trạng “sử dụng và vứt bỏ”
khiến một cá nhân thao túng thân xác của tha nhân và xem như nó như một đồ vật
để sử dụng bao lâu nó còn đem lại thỏa mãn, và bị khinh thường khi nó không còn
hấp dẫn nữa. Sử dụng người khác như các đồ vật cũng sẽ bị người khác sử dụng,
thao túng và bỏ rơi.
[78] “Người ta bỏ tôi như vứt cái khăn giấy” là câu nói các nhà tâm lý
trị liệu thường được nghe. Thay đổi đối tượng để tìm cảm giác mới là một loại độc
hại kiểu ma túy trong quan hệ yêu đương, kiểu tiêu thụ người như tiêu thụ hàng
hóa (Jacques Arènes).
[79] Chủ nghĩa tiêu thụ chỉ biến
con tim thành nặng nề. Nó có thể mang lại cho ta những khoái cảm ngẫu hứng và
chóng qua, nhưng không phải là niềm vui.
[80]

Ý nghĩa của tình dục bị bóp méo bởi não trạng hưởng thụ ích
kỷ dẫn đến những hình thức cố hữu của sự thống trị, ngạo mạn, lạm dụng, lệch lạc
và bạo lực tình dục. Não trạng đó chôn vùi phẩm giá của người khác, bóp nghẹt
tiếng gọi vươn đến yêu thương, phá vỡ sự hiệp thông ngay từ lòng người. Vì thế,
tình dục cũng có thể trở thành một nguồn của đau khổ và của sự thao túng. Nó chỉ
trở thành hành vi đích thực của tình yêu và sự hiệp thông khi nó được tiến hành
trong trật tự luân lí đúng đắn,
[81] theo ý muốn của Thiên Chúa
khi chúng được thực hiện một cách
“hợp với
nhân tính thực sự”.
[82] Không hợp với nhân tính khi
đó là sự ham muốn vô trật tự hay hưởng thụ vô độ khoái lạc tình dục; chỉ tìm
khoái lạc để hưởng thụ, chứ không nhằm mục đích sinh sản và kết hợp trong tình
yêu.
[83] Sự hiệp thông vì thế bị đe
dọa bởi sự ham hố vô độ. Ở đây, bản chất cấu trúc hiệp thông trong mối quan hệ
liên vị bị phá vỡ, phẩm giá cá nhân bị phủ nhận cả nơi người bị trị và người thống
trị. Khi tính dục mất hết mọi ý nghĩa, nó chỉ còn là cách để thoát li bản thân
và chối bỏ vẻ đẹp của sự kết hợp vợ chồng. Khi tình dục là
cách để thoát li bản thân, nó đã khiến người ta như mất hết lý trí để
tìm kiếm bất chấp uy tín, danh phận, tiền tài, thành tựu, con cái và gia đình
.[84]

“Chìa khóa của tự do
không phải là có toàn quyền làm điều dữ. Ý chí tự do không nằm ở quyền tự quyết
của thụ tạo, mà chính là khả năng phát triển bản thân trong sự cậy dựa hoàn
toàn vào Thiên Chúa” (Thánh Catarina Siena).
[85]
Phải từ chối bất kỳ
một hình thức nô lệ hoặc phục tùng tình dục nào. Tình yêu và sự hiệp thông được
kiến tạo và thực hiện bởi sự tự hiến cho nhau, yêu người phối ngẫu như chính
thân xác mình, thuộc về nhau theo cách tự do chọn lựa, với lòng trung tín, kính
trọng và quan tâm lẫn nhau.
[86] Cách tốt nhất là có thể nhìn
thấy hình ảnh của Đức Kitô ở nơi người phối ngẫu để có thể sống đức bác ái yêu
thương.
[87] Sự tự do của con người kết
hiệp với nhau do sự khôn ngoan và ý muốn của Thiên Chúa thu xếp.
[88] Tính dục và phục vụ không
tách rời nhau trong tình bạn này giữa vợ chồng, vì nó được đặt định để người
này giúp người kia sống viên mãn, không loại trừ nhau và loại trừ chính mình.
[89] “Bất cứ ai muốn trao hiến tình yêu thì cũng phải đón nhận tình yêu như
một quà tặng”.
[90]

3. Chủ nghĩa của sự hoàn hảo

Cần phải để tang hay đem chôn vùi chủ nghĩa hoàn hảo vì nó
là nguyên nhân của nhiều thất bại trong tình yêu, phá vỡ hiệp thông ở cấp độ cá
nhân, gia đình hay cộng đoàn. Thói kiêu ngạo luôn muốn biến mình thành người
hoàn hảo trong bất cứ lãnh vực nào, kể cả tình yêu. Chủ nghĩa hoàn hảo muốn lý
tưởng hóa mọi sự, kể cả cái tôi của mình lúc nào cũng là giỏi nhất, hiệu năng
nhất, chuẩn không cần chỉnh (Sophie Schlumberger).
[91]
Chính vì muốn là người hoàn hảo mà con người có thể mang ảo tưởng tự mình đã đủ
cho mình về mọi lãnh vực kể cả yêu thương. Đã là người hoàn hảo thì không cần
được tha thứ bởi Thiên Chúa hay từ tha nhân. Đã là người hoàn hảo thì không phải
mang ân nghĩa gì với ai, kể cả Thiên Chúa. Làm sao một người có thể sống hiệp
thông và yêu thương người khác khi không biết đứng vào vị trí của người khác để
thông cảm với họ, để thấy mình cũng đầy bất toàn, tổn thương, bất hạnh theo
gương Đức Giêsu.
[92]

“Nếu chúng ta nói
chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng
ta”
(1Ga 1,8). Nghĩ mình là người hoàn hảo thì đương nhiên người ấy có cảm
tưởng rằng mọi tư tưởng, lời nói, việc làm đều hoàn hảo tất tần tật. Não trạng
kiêu ngạo đầy nguy hiểm nấp mình cách tinh tế trong chủ nghĩa hoàn hảo. Chủ
nghĩa hoàn hảo là thói kiêu ngạo âm thầm làm tổ trong sâu thẳm trái tim con người,
kể cả nơi những người sống một cuộc sống xem ra có vẻ đạo đức sốt sắng. Đức
thánh cha Phanxicô kể rằng:
“Có một nhà
dòng nữ kia,
[93]
vào những năm 1600-1700, vào thời Jansenism (thuyết Jansen),
[94]
rất nổi tiếng. Họ là những nữ tu vô cùng hoàn hảo và họ nói rằng mình vô cùng
trong sạch giống như các thiên thần vậy. Nhưng họ kiêu ngạo như ma quỷ. Đó là một
điều xấu. Tội lỗi chia rẽ tình huynh đệ; tội lỗi khiến chúng ta xem mình tốt
lành hơn người khác, làm cho chúng ta tin rằng mình giống như Chúa”.
[95]

Chủ nghĩa hoàn hảo khiến con người có thể nghĩ rằng mình yêu
thương và tha thứ cho anh em chỉ bằng khả năng của mình mà không cần đến ơn
Chúa. Họ quên điều mà Đức Phanxicô gọi là “mầu nhiệm của mặt trăng”. Mặt trăng
chỉ phản chiếu ánh sáng của mặt trời. Con người chỉ là phản chiếu ân sủng và
ánh sáng hoàn hảo của Thiên Chúa.
Tự bản
thân một người không thể tỏa sáng yêu thương nếu không có người khác và người
khác phái đánh thức tình yêu ở trong bạn, làm cho bạn hiểu ý nghĩa của sự hiện
hữu ở trong người này như thế nào.
Chúng ta yêu thương và tha thứ bởi vì
chúng ta được yêu thương và tha thứ. Và nếu ai đó không được chiếu sáng bởi ánh
sáng của mặt trời thì sẽ trở thành giá lạnh như trái đất trong mùa đông.
[96]

“Kiêu ngạo là cội rễ mọi
sự dữ và là thất bại của mọi điều lành” (Thánh Vincent Phaolô).
Chủ nghĩa
hoàn hảo là yêu mình đến mức sẵn sàng chẳng cần đến ai, kể cả Thiên Chúa. Đó là
cái bẫy khiến Satan vui thích vì con người đã học đòi bắt chước thói xấu kiêu
ngạo của nó. Chủ nghĩa hoàn hảo là cái bẫy ma quỷ làm cho người kiêu ngạo trở
nên khoác lác,
[97] tưởng mình tốt lành và quan
trọng để làm họ xa rời ý muốn Thiên Chúa,
[98]
chọn việc của Chúa thay vì chọn Chúa
.[99] Tình yêu dành cho Thiên
Chúa và cho tha nhân là điều các thánh quan tâm:
“Chúa Kitô trân trọng tình yêu mà người ta đặt vào công việc họ làm,
hơn là tầm quan trọng của chính công việc đó” (Thánh Têrêsa Avila);
[100]

“Vào lúc đời xế bóng, bạn sẽ bị xét xử về
tình yêu” (Thánh Gioan Thánh Giá).
[101]

“Tính kiêu ngạo làm
chúng ta ghét những người ngang hàng chúng ta vì sợ họ bằng chúng ta; ghét những
người kém chúng ta vì sợ họ sẽ bằng chúng ta; và ghét những người trên chúng ta
vì họ ở trên chúng ta”
(Thánh Gioan Vianney). Nếu chủ nghĩa hoàn hảo hay sự
kiêu ngạo giết chết tình yêu và phá vỡ sự hiệp thông thì sự khiêm nhường chính
là hạt giống làm trổ sinh tình yêu đích thực.
“Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường”
(1Pr 5,5; Gc 4,6).
Một khi loại bỏ được chủ nghĩa hoàn hảo, con người biết
mình được yêu không điều kiện, không cần phải xứng đáng, thoải mái nhận niềm ưu
ái dịu dàng, buông mình để nhận một món quà bất ngờ. Món quà lớn nhất của việc
chấp nhận mình bất toàn đó chính là khởi đầu cho tình yêu và sự hiệp thông. “
Khiêm nhượng là nhân đức duy nhất ma quỷ
không thể bắt chước được. Nếu như thói kiêu ngạo khiến các thiên thần trở thành
ma quỷ, thì khiêm nhường ắt hẳn cũng có thể biến ma quỷ trở nên thiên thần”
(Thánh Gioan Climacus).
[102]

4. Ba khe hở theo thánh Biển Đức[103]

Nhìn dưới khía cạnh tu đức theo thánh Biển Đức, cuộc chiến đấu
chống lại chủ nghĩa hoàn hảo có ba khe hở hay ba cám dỗ mà ma quỷ lợi dụng để
làm phân rã nhân vị, làm phân tán sự hiệp thông hay phá hủy cấu trúc cơ bản của
tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân.

Bất cứ ai không liều mình mở lòng ra với Thiên Chúa trong
tinh thần vâng phục sẽ dễ dàng bị thế gian, ma quỷ và xác thịt hạ gục bởi danh
vọng, lợi lộc và lạc thú:

1) Tham lam: Biểu
tượng con heo chúi mõm vào máng ăn; thể hiện qua việc khao khát lạc thú và tiền
bạc. Thánh Phaolô cho biết:
“Cội rễ sinh
ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều
người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1Tm 6,10).
John
Steinbeck tự hỏi:
“Liệu có ích gì chăng,
nếu một người phấn đấu tranh giành được cả thế gian, và rồi cuối cùng ngồi đó,
ôm lấy đủ thứ bệnh hoạn trên người”
. [104]
Còn Đức Giêsu thì nhắc nhở:
“Ai muốn theo
tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu
mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng,
thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống,
thì người ta nào có lợi gì? Quả thật, người ta lấy gì mà đổi lại mạng sống
mình ?” (Mc 8,34-37).

2) Được nhận biết và
yêu thương:
Biểu tượng con công vênh vang với bộ lông sặc sỡ; thể hiện qua
việc tìm kiếm vinh quang và danh vọng. Đức Giêsu biết những người Do Thái không
tin vào Người vì
họ không có lòng yêu mến
Thiên Chúa, chỉ tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ
Thiên Chúa duy nhất
.[105]

3) Kiêu ngạo: Biểu
tượng con chim ưng; thể hiện quyền lực tối thượng,
[106]
chinh phục quyền lực, luôn luôn có lý, không bao giờ xin lỗi, mọi người phải đến
báo cáo, mình luôn là tiếng nói cuối cùng trong mọi chuyện, không để cấp dưới tự
giải quyết vấn đề, bất chấp sáng kiến cá nhân và phẩm giá,
[107]
luôn lấy lựa chọn của mình làm tiêu chuẩn chứ không theo lựa chọn của Chúa
(Sophie Schlumberger).
[108] “Kiêu ngạo là phủ nhận Thiên Chúa, là sáng kiến của ma quỷ” (Thánh
Gioan Climacus).
[109]

Phương pháp chiến đấu
để có thể lách qua các cám dỗ hoàn hảo đó chính là:
Làm việc vì đức ái, để
Thần Khí của Thiên Chúa thúc đẩy, tham dự vào sự cứu rỗi của Đức Giêsu
(qua đau khổ, yếu kém, giới hạn, sai lầm và
cả tội lỗi),
[110] lớn mạnh trong lòng mến và
sau cùng là chịu đựng thử thách và cám dỗ cho Hội Thánh, với Hội Thánh và trong
Hội Thánh. Các vũ khí chiến đấu chính là cầu nguyện
[111]
và chiêm niệm
(tìm vinh danh Thiên Chúa,
sùng kính Đức Mẹ để bớt kiêu ngạo, bớt vênh vang),
lãnh nhận các bí tích (đặc biệt Bí tích Thánh Thể và Bí tích Giải
Tội; tập chết đi cho tội lỗi và sống lại với Đức Kitô),
làm phúc bố thí (tập dâng hiến và quên mình để bớt tham
lam),
sống chay tịnh (hy sinh vui
thú, sửa mình qua con đường tu trì).
Khiêm nhường là nền tảng của cầu nguyện.[112]

Với sự trợ giúp của bởi ân huệ của Chúa Thánh Thần, con người
sống tình yêu với Thiên Chúa và hiệp thông với anh em luôn ao ước để chết đi ước
muốn tham lam, phù phiếm và kiêu ngạo, nỗ lực sống khiêm tốn và phục vụ thay vì
triển lãm cái tôi kềnh càng cách tinh vi. Con đường của sự trọn hảo, hiệp thông
và yêu thương phải đi qua thập giá. Nó đòi hỏi sự khổ chế và hy sinh hãm mình
khi nhận ra sự bất toàn của cá nhân, gia đình hay tập thể. Đó là những bước cần
thiết để dẫn con người tới việc sống trong bình an và hoan lạc của các mối
phúc.
[113]

“Con hãy ổn định linh hồn, giảm thiểu ước muốn, sống bác ái,
hiệp thông với cộng đoàn Kitô hữu, tuân giữ lề luật và tín thác vào Chúa Quan
Phòng” (Thánh Augustinô).
[114] Để chữa lành những vết
thương do tội lỗi, vợ chồng cần đón nhận sự trợ giúp đầy lòng thương xót của
Thiên Chúa để rồi trong bầu khí thinh lặng và đối thoại họ dâng lời cầu nguyện:

“Lạy Thiên Chúa, chúng
con dâng lên Chúa mọi khó khăn trong cuộc hành trình. Xin ban cho chúng con qua
đức tin, có thể nhận biết Chúa đang hoạt động như thế nào, và Đức Giêsu Kitô
đang hiệp nhất các gia đình và nhân lại như thế nào; và các thử thách, đau khổ,
và đau đớn có thể trở thành những lối đi đưa chúng con đến hiệp nhất, hiệp
thông trong ân sủng của Chúa Giêsu trên thập giá, Đấng đã hiến mạng sống của
Ngài vì mọi người. Amen”.
[115]

IV. GIA ĐÌNH TĂNG CƯỜNG SỰ HIỆP THÔNG

“Yêu thương là sự hoàn
tất của mọi công việc của chúng ta. Đó là mục đích: Chúng ta chạy vì đó, chúng
ta chạy đến đó; và khi tới đó, chúng ta sẽ yên nghỉ” (Thánh Augustinô).
[116] Không nhân đức nào con người đạt được mà không trải qua những gập
ghềnh, bất toàn, kể cả tội lỗi. Con người nhân đức luôn phải chọn lựa mỗi ngày
trong tự do để từng bước nhận biết, yêu mến và chu toàn điều thiện.
[117] Củng cố sự hiệp thông
trong gia đình chính là nỗ lực để nhận ra vẻ đẹp và sự lôi cuốn của những thái
độ chân chính hướng về điều thiện, họ tăng trưởng về nhân đức, cách riêng là đức
ái.
[118]

“Chúng ta không thể tự
giải thoát chính mình khỏi bản tính tự nhiên” (Robert Spaemann).
[119]
Vì thế, gia đình cần ân sủng nâng đỡ bản tính tự nhiên (gratia supponit natural). Gia đình Kitô giáo củng cố sự hiệp
thông, tăng cường đức ái dưới sự trợ giúp của ân sủng. Gia đình cùng cất bước
trên nẻo đường yêu thương vì đó là đường dẫn đến Đức Giêsu Kitô, là Chúa và là
Đấng Cứu Độ đáng chúc tụng!
“Hiện nay đức
tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”

(1Cr 13,13).

1. Củng cố sự hiệp thông cách cụ thể

Tiếp nạp nguồn năng lượng yêu thương và hiệp thông cho tình
bạn, tình yêu và hôn nhân đang bị hao mòn là thực hành cần thiết. Đôi bạn và
cha mẹ có bổn phận duy trì các nguồn năng lượng để nạp điện cho lòng nhiệt
thành của bản thân và cho con cái.

Sự chểnh mảng làm cho sự hiệp thông nơi gia đình phân rã.
Cùng làm và cùng tham gia làm một việc nào đó, muốn làm gì đó để đầu tư thời
gian, năng lực, thiện chí, cống hiến, hy sinh để chính cá nhân trao tặng cho
gia đình là ưu tiên số một. Sự hiệp thông trong gia đình mời gọi không ai đứng
ngoài cuộc. Mỗi người vừa là người đón nhận và vừa là người trao ban, mỗi người
có chỗ đứng độc đáo nào đó; khiến cho nếu khiếm khuyết vai trò đó thì toàn bộ
cơ cấu gia đình sẽ ra khác, thậm chí nó không còn là gia đình. Tình tương thân
tương ái khiến mỗi người có trách nhiệm về hạnh phúc gia đình mình.

Chính khi cùng làm, cùng ăn chung và cùng sống với nhau mà mỗi
người biết dành thời gian để chuyện trò, để lắng nghe như một nhu cầu thiết yếu
của sự hiệp thông.
[120] Dành thời gian để lắng
nghe và đối thoại là trọng tâm trong đời sống hôn nhân gia đình, bởi vì nó mang
đến cho vợ chồng một trải nghiệm về sự nên một khiến vợ chồng gần gũi nhau hơn.
Đó là một hành động yêu thương bởi vì nó tạo ra tình yêu và sự hiệp thông sâu đậm
hơn.
[121]

Biết lắng nghe là bổn phận đầu tiên của tình yêu. Trong môi
trường này, mỗi người cảm thấy thỏa mãn nhu cầu thiết yếu là được người khác
quý trọng và đánh giá cao. Điều quan trọng là trước khi biết lắng nghe nhau để
củng cố sự hiệp thông, con người phải biết lắng nghe lời Thiên Chúa. Vợ chồng
ông Gióp hiểu lầm nhau vì sự khác biệt của họ trong tương quan với Thiên Chúa.
Hai vợ chồng ông không gặp gỡ nhau trong việc cùng yêu mến Thiên Chúa. Vì vậy,
“Đôi vợ chồng phải đi đến Thiên Chúa và lớn
lên với Ngài trong tư cách là một đôi phối ngẫu. Vì lý do này, vấn đề của vợ chồng
là phải cùng lắng nghe lời Thiên Chúa. Đây là một trợ giúp cho việc cùng lớn
lên trong đức tin”.
[122]

Trong gia đình hạnh phúc, mức độ quý mến nhau ở mức tối đa.
Mỗi người đều có một điểm nào đó đáng khen và đáng yêu như chất keo để xây dựng
sự hiệp thông. Dẫu còn đó những bất toàn thì tinh thần cùng “thăng tiến” sẽ lướt
thắng não trạng hoàn hảo đang đục khoét sự hiệp thông. Cái nhìn tích cực khiến
gia đình luôn là nơi mỗi người tìm gặp được người giúp đỡ và an ủi trong những
lúc khó khăn, tìm được động lực để thăng tiến và tái tạo, nơi giúp người ta được
đổi mới và tràn đầy sinh lực, được trang bị sức mạnh cần thiết để đối mặt với
cuộc đời. Chính nơi gia đình mà cá nhân nhận ra và điều chỉnh hình ảnh trung thực
của bản thân.

Gia đình hòa hợp và hiệp thông vẫn còn đó những vấn đề cần
giải quyết và giải tỏa. Tinh thần hiệp thông giúp họ có khả năng vượt qua khó
khăn không thể tránh khỏi từng bước một. Họ không nhìn vào sai trái hay tội lỗi
mà tìm cách thế giải quyết vấn đề để nuôi dưỡng tình yêu và duy trì sự hiệp
thông. Tình yêu là chất nhựa sống còn cho mái ấm gia đình. Gia đình hạnh phúc
diễn tả chiều kích tâm linh của mình cách cụ thể trong đời sống hàng ngày. Họ
chia sẻ những giá trị đích thật qua việc cùng nhau cầu nguyện. Những giờ sum vầy
cầu nguyện dần dà sẽ làm trổ sinh hoa trái là sự đồng tâm nhất trí, sự dịu
dàng, ơn tha thứ, sự cảm thông và lòng tin vào Thiên Chúa. Sự tha thứ trong gia
đình là chất keo nối kết tình hiệp thông, là biểu hiệu rõ nét nhất của tình
yêu. Cha mẹ trách mắng con cái cách nào để chúng đừng nghi ngờ về tình yêu cha
mẹ, để chúng cảm nhận rằng cha mẹ đang ở trong Chúa. Một học giả Nhật Bản cho
biết rằng để bù vào một lời phê bình hay một sự trừng phạt, cho dù đó là một đứa
trẻ, người ta phải khen ngợi và tán thưởng ít là năm lần trong ngày đó nếu
không muốn nó thành người nhụt chí và nhút nhát. Lời ngợi khen có hiệu quả đem
lại tình yêu và sự hiệp thông.
[123] “Cầu nguyện và tha thứ là giải pháp cho các đôi vợ chồng đang phải
tranh đấu trong quan hệ hôn nhân, cho những thanh thiếu niên lớn lên từ những
gia đình bạo lực và đối với cả bà mẹ đơn thân không được gia đình nâng đỡ”
(Thánh Têrêsa Calcutta).
[124]

“Những con người lành
mạnh cần một tuổi thơ hạnh phúc” (Astrid Lindgren).
[125]
Không có gì làm tổn
thương cho con người hơn là cảm thấy mình không được yêu thương. Những ngày lễ
hội trong gia đình là dịp gia tăng niềm vui, tình yêu và sự hiệp thông cho mọi
thành viên. Chơi đùa thật sự quan trọng cho trẻ trong thời thơ ấu. Nó là công
việc quan trọng nhất của trẻ em (Michel De Montaigne);
[126]
việc đó ảnh hưởng đến sự trưởng thành. Ký ức được yêu thương lôi kéo con người
ra khỏi cô đơn và tuyệt vọng những khi cuộc đời đầy sóng gió thử thách.
“Khi người ta biết ăn mừng, là người ta có
khả năng làm mới lại năng lượng của tình yêu, giải phóng người ta khỏi sự đơn
điệu nhàm chán và làm cho những thói quen thường nhật đượm đầy màu sắc và hi vọng”.
[127]

Cảm nhận quan trọng nhất của một đứa trẻ là biết rằng cha mẹ
chúng yêu nhau, chúng là hoa trái của tình yêu đó. Tình yêu nối kết mẹ cha là
đá tảng vững vàng trên đó chúng có thể dựng xây tổ ấm. Khi biết cha mẹ yêu
thương nhau thể hiện qua ngôn ngữ hay hành vi, một dòng suối ấm áp an bình bao
bọc con cái. Tình thương là dây liên kết nền tảng phải có giữa mỗi thành viên
trong gia đình. Mỗi đứa trẻ dễ dàng cảm nhận được tình yêu chân thành và việc
chia vui sẻ buồn hiện diện nơi gia đình mình. Mỗi đứa trẻ có trực giác rất rõ về
tình yêu giữa con người với nhau. Bầu khí yêu thương làm cho gia đình tồn tại.
Tình yêu và chỉ tình yêu là mảnh đất mang lại dưỡng chất nhân bản, đạo đức, tâm
lý và văn hóa cho trẻ thơ và thanh thiếu niên, điều cho phép chúng nên người.
Tình yêu là bến cảng từ đó người ta sẽ nhổ neo con thuyền cuộc đời để ra đi
chinh phục thế giới và quay về mỗi khi có thể. Gia đình phải là một bến cảng mà
người ta có thể tin cậy cách vô điều kiện.
Yêu
thương nhau giữa cha mẹ là trách nhiệm lớn lao mà họ có thể làm cho tương lai của
con cái và sự hiệp thông trọn vẹn của gia đình và gia tộc.
Mối tương quan
hiện có giữa cha mẹ là cội nguồn phát sinh sự ổn định và an bình cho con cái.
[128]

“Điều gì bất lợi cho
đàn ong, thì làm sao có lợi cho chú ong?” (Charles-Louis De Montesquieu).
[129] Tương quan yêu thương và
hiệp thông của cha mẹ là lợi ích cho chính họ và cho con cái. Vì lý do này, họ
cần phải dành thời giờ tâm sự với nhau, chuyện trò cùng nhau, hòa giải các điểm
bất đồng và vì vậy lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau để cùng nhau thăng tiến
trong “sự trưởng thành về mặt cảm xúc”, chúng là sự phối hợp hài hòa nhiều phẩm
chất như: Tính rộng lượng, lòng khoan dung, khả năng thích nghi, sự thông cảm,
sự khôn khéo…
“Chúng ta trở thành những
con người thật sự nhờ có thể trò chuyện cùng nhau” (Karl Jaspers).
[130]

“Đời sống của cha mẹ
là quyển sách cho con cái đọc” (Thánh Augustinô).
[131]
Trẻ nam và trẻ nữ
cư xử theo cách chúng học được hoặc trông thấy nơi quý ông hoặc quý bà là cha mẹ
chúng. Con cái cũng hấp thụ kiểu tương quan phái tính có nơi cha mẹ. Cha và mẹ
nên nhớ họ cũng là vợ chồng và bởi đó phải gia tăng tình yêu cho nhau và cho
con cái cùng một trật. Nếu mối dây liên kết họ lại vẫn sống động và mạnh mẽ,
thông thường mọi hoạt động trong gia đình suôn sẻ và người ta có thể giải quyết
mọi vấn đề.

Tình yêu vợ chồng đừng lãng quên hay bóp nghẹt tính cách nữ
giới và nam giới khi xem xét và đương đầu với thực tế cũng như với các vấn đề.
Phải làm sao để vai trò người mẹ và vai trò người cha không bị đảo ngược một
cách nông nổi và quá sâu đậm. Các nhà tâm lý học nhận thấy mối tương quan của việc
chuyển đổi giới tính với việc vị thế của cha hoặc mẹ bị lấn lướt quá mạnh.
[132] Yêu thương là biết quan
tâm đến nhau. Những ngày kỷ niệm, lễ hội, quà tặng, đi chơi, ăn ngoài trời và
những thiệp chúc mừng của người chồng có thể phá tan tầng mây xám vô vị đang
vây bủa người vợ. Ngược lại người vợ cũng không nên dựng lên xung quanh mình bức
tường ngăn cách với chồng qua những hòn đá thù oán, cố chấp, lặng thinh, dỗi hờn,
nhắc lại chuyện cũ… Biểu lộ tình cảm là điều quan trọng, luôn nhạy cảm với nỗi
đau của người khác. Chấp nhận người khác với những bất toàn không thể tránh khỏi,
chấp nhận người khác như con người vốn có của họ và vị trí hiện tại của họ
.[133]
Người nữ có nhu cầu truyền đạt tình cảm của mình, cảm thấy được lắng nghe và được
che chở; người nam có nhu cầu cảm thấy được đánh giá cao cho cái tôi. Vợ chồng
nên hâm nóng tình yêu cách định kỳ qua các kỳ nghỉ, tĩnh tâm, hành hương… Tân
trang cách đều đặn các nghĩa cử lãng mạn, từ những bông hoa đến cái liếc mắt
đưa tình khi nói chuyện với bạn mình.
[134]
Hãy nhớ: “Giờ quan trọng nhất luôn ở hiện tại. Người quan trọng nhất luôn là
người đang ở trước mặt bạn lúc này. Việc quan trọng nhất luôn là việc yêu
thương” (Meister Eckhart).
[135]

2. Trưởng thành trong tình yêu

“Tình yêu gồm hai người
cùng tệ như nhau” (Paul Valéry).
Khi những cuộc hôn nhân chấm dứt bằng ly dị
như bằng chứng phũ phàng của mối hiệp thông bị phá vỡ, con người cảm thấy cay đắng
và ngỡ ngàng vì
tình yêu hạnh phúc không phải là cặp bài
trùng luôn được đi đôi với nhau.

Thất bại trong tình yêu hay việc cắt đứt sự hiệp thông cách
nào đó cho thấy ảo tưởng về tình yêu bị lột trần ra, qua đó mời gọi con người
trưởng thành hơn khi biết khiêm tốn nhìn vào chính mình mà thay đổi. Hơn cả sự
trưởng thành, trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, con người cần được thanh
luyện khỏi não trạng ấu trĩ, vượt qua điều mà con nít vẫn tin là mình luôn luôn
có thể có điều mình mong muốn, có sự thành công mà không cần một kỷ luật nghiêm
khắc nào.
[136] Để rồi vượt lên trên tất cả
những cay đắng, bất toàn, buồn phiền họ có thể an ủi và nói chuyện thân mật với
người thân của mình như ông Giuse:
“Các
anh đừng buồn phiền, đừng hối hận vì đã bán tôi sang đây: Chính là để duy trì sự
sống mà Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em. Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền
Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho
nó thành điều tốt là cứu sống một dân đông đảo” (St 45,4-5; 50,19-21).

Giuse yêu thương nên đã có khả năng nói những lời động viên có sức vỗ về, trợ lực,
an ủi, khích lệ.
[137] Trưởng thành trong tình
yêu hay trong đời sống tâm linh chính là việc nhận ra mình chỉ là một dụng cụ
trong kế hoạch của Thiên Chúa. Thiên Chúa đặt để ai hay việc gì vào chương
trình sáng tạo và cứu độ là tùy ý Ngài. Ý thức mình là dụng cụ của Thiên Chúa
nghĩa là chấp nhận đi vào con đường thập giá, trở nên một nấc thang để người
khác đi lên. Đừng quan trọng hóa cái tôi khi nó chỉ có tính tương đối, bất
toàn, một dụng cụ không hơn không kém.

“Tội Ađam thật là cần
thiết, tội đã được tẩy xóa nhờ sự chết của Chúa Kitô. Ôi tội hồng phúc vì đã
đáng được Đấng Cứu Chuộc rất cao sang” (Exultet).
Ở khía cạnh tích cực, việc
Ađam và Evà bị Thiên Chúa đuổi ra khỏi vườn địa đàng là một may mắn. Ở ngoài vườn
địa đàng để Ađam và Evà vỡ mộng về tình yêu và hạnh phúc nằm ngoài tầm với của
họ, để họ không còn an toàn giả tạo khi áp dụng chính sách đà điểu chui đầu xuống
cát lúc gặp nguy hiểm. Để tránh rơi vào an toàn giả tạo hoặc rơi vào cám dỗ muốn
biến hòn đá khô khan thánh bánh tình yêu, đôi bạn có thể thay bánh này bằng
bánh khác. Tác giả Alain Houziaux đề nghị nên linh động thay đổi qua lại giữa
ba loại bánh trong tình yêu:

1) Bánh Eros (tình
ái):
Tình yêu eros đặc biệt thuộc
văn hoá Hy Lạp, là tình yêu đi lên và ham muốn.
[138]
Đó là đam mê nhục dục, lúc nào cũng khiến đôi bạn hụt hẫng và thiếu thốn. Tính
hai mặt của nó khiến con người phải nhìn nhận rằng yêu nhau chính là bước vào một
cuộc phiêu lưu đẹp, người ta có thể sờ đụng nó nhưng nó vẫn cứ như một ánh sáng
huyền bí vuột khỏi tầm tay. Cái thiếu này không phải là một thất bại, nó là đòi
hỏi riêng biệt của huyền nhiệm tình yêu và mình phải sống với nó. “Rõ ràng,
eros cần sự thanh luyện, để nó không chỉ đem lại cho con người chút khoái lạc
chóng qua, nhưng là một sự nếm trước đỉnh cao của cuộc sống – một thứ diễm phúc
mà cuộc đời chúng ta hướng đến”.
[139]

2) Bánh Philia (tình bạn):
Đó là vui hưởng sự có mặt của người kia trên cuộc đời. Sự hiện diện ở đây khiến
đôi bạn ngưng đòi hỏi nhau, vượt qua những đam mê xâu xé để vui hưởng sự hiện
diện của nhau. Dù không gặp được tiếng nói chung do phái tính khác nhau thì đây
là loại bánh ngon làm cho tình yêu sống dài lâu, làm cho hai người cùng già với
nhau trong tình yêu (Jacques Arènes). Tình yêu huynh đệ làm tăng khả năng vui mừng,
vì nó làm cho ta có thể vui vì điều tốt lành của người khác: “
Hãy vui với người vui” (Rm 12,15).[140]

“Trong thực tế, eros agape -tình yêu đi xuống và đi lên-
không bao giờ tách biệt nhau. Khi cả hai càng hợp nhất đúng đắn dưới mọi chiều
kích khác biệt trong một thực tại tình yêu duy nhất, thì bản chất chân thật của
tình yêu càng tỏ hiện rõ ràng. Thiên Chúa là nguồn gốc sáng tạo vạn vật, đồng
thời trong Đức Giêsu Kitô cũng là một con người yêu với một tình yêu thực sự
đam mê. Như thế, eros được nâng lên hàng cao quý tột đỉnh, nhưng đồng thời được
thanh luyện, để
eros tan biến vào
trong
agape”.[141]

3) Bánh Agapê (bác
ái):
Tình yêu theo quan niệm Kitô giáo là agapê, tình yêu đi xuống và dâng hiến.[142]
Đó là tình yêu trao ban nhưng không. Nó thoát khỏi tính vị kỷ và vụ lợi để tô đậm
nét đẹp chung thủy, để bày tỏ ơn nghĩa sâu xa vì những gì mình đón nhận được từ
người kia, để sẵn sàng hy sinh cho người mình yêu.
“Chung thủy tồn tại khi tình yêu mạnh hơn bản năng” (Paul Carvel).[143]

Khi nhận thức được tính mong manh của tình yêu, người ta
không dám thử thách nó bằng những cú trượt dài lao vào mạo hiểm hay đùa với lửa
để thử thách
lòng tin tưởng của người
kia.
[144] Yêu nhau chính là tiếp tục
tin tưởng vào con người thật của người kia để vượt ra khỏi cám dỗ chuyên chế
khi nghĩ rằng mình luôn có lý
. “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt
bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà (isha), vì đã được rút ra từ đàn ông
(ish)”
(St 2,23); Ađam nhìn nhận bản chất xác thịt yếu đuối như nhau để yêu
Evà; Ngay từ nguyên thủy, Ađam và Evà đã ý thức họ không phải là những vị thần
hoàn hảo. Việc từ chối trách nhiệm vừa khiến con người bớt là người vừa minh chứng
cho tính bất toàn của họ. Ađam và Evà là mô hình nguyên thủy về tính bất toàn
cho mọi con cháu là chính chúng ta.

“Bản tính thâm sâu nhất
của tình yêu là tự hiến” (Edith Stein).
[145]
Con người hiện đại
lại quên mất rằng tình yêu dù thiêng liêng cao thượng đến mấy thì nó phải đi
ngang qua đời sống với những mong manh và lo lắng:
“Đôi cặp không chỉ là một kết hợp của cha mẹ cho tổ ấm gia đình mà còn
là phòng thí nghiệm của tình yêu và vì thế, một tiến trình phát triển khác trước”

(Paule Salomon). Thực tế giữa họ luôn
có một khoảng trống không cho phép họ nên một xương một thịt. Khoảng không gian
đó đâu có cho phép họ yêu theo cách chiếm hữu, độc quyền, chuyên chế, so sánh,
nô lệ… Tình yêu đó sẽ đạt được lý tưởng ở chỗ hai người khác nhau có cùng một
cách yêu nhau và có chung một tình yêu. Tình yêu đó sẽ đạt tới đỉnh cao khi nó
là tình yêu tự hiến theo gương Cha trên trời, như Thánh Giuse đã yêu mến Đức
Maria và Đức Giêsu bằng một tình yêu vô biên, dịu dàng, thanh khiết, tự hiến và
tự do phi thường. Thanh khiết thoát khỏi thái độ chiếm hữu trong mọi lĩnh vực đời
sống của mình. Tình yêu tự hiến tôn trọng quyền tự do để người khác sống cuộc sống
của riêng mình cách tinh tế. Vẻ đẹp và niềm vui chính là hoa trái của tình yêu
tự hiến.
[146] Họ hiểu rằng: “Tình yêu cũng như lửa, phải khơi hoài mới
giữ được ngọn lửa. Khi hết hy vọng và hết sợ thì hết tình yêu” (La
Rochefoucault).
[147]

Phòng thí nghiệm của tình yêu đòi hỏi hai người yêu nhau tập
quên đi những sảng khoái thuở ban đầu tim kề tim để nhận ra không thể xô đẩy
nhau đi vào con người của nhau mãi vì tính cá biệt là một nhu cầu không thể hòa
trộn. Đời sống thực tế là nơi xảy ra những rủi ro và may mắn, nơi đó đòi hỏi
con người vừa phải đổ mồ hôi và nước mắt, vừa phải vững niềm tin để có được một
thành công nào đó. Thomas Edison cũng đã vật lộn trong phòng thí nghiệm để có
được ánh sáng của bóng đèn và phòng thí nghiệm của tình yêu để có được niềm vui
cho cuộc đời.
[148] Tính cá biệt hay nét độc
đáo của mỗi nhân vị càng không cho phép nó vong thân trong
cấu trúc chuyên chế trị và bị trị, nó cần thế quân bình. Kể cả
trong tình yêu, chẳng ai muốn mình bị khai thác, bị người khác phóng chiếu cái
tôi của họ lên mình, bị tổn thương vì lợi ích riêng mạnh hơn lợi ích chung, bị
mất tự do vì can thiệp quá sâu và quá lâu, bị mất bình an do tính sáng tạo bị
bóp nghẹt và phẩm giá bị xúc phạm.
[149]
Giữa những xung đột chuyên chế về phái tính, điều cần thiết là có khả năng để
nhận ra chiều kích phái tính liên quan đến nhau để mềm dẻo tiến tới quan hệ của
một
alter ego – cái tôi khác, một con
người trọn vẹn hơn. Đó là con người vừa đơn độc vừa kết hợp, vừa bạn hữu vừa
người tình, vừa hôn thê vừa vợ chồng, vừa phụ thuộc vừa độc lập, vừa con người
vừa Kitô hữu. Để thành công trong đời sống vợ chồng, cuộc chiến đấu mưu cầu cho
hạnh phúc đòi hỏi tính khí anh hùng, năng động, tinh tế giữa những bộn bề của:
Cái tôi, tình dục, quả tim và cái đầu. Cuộc chiến đấu này đưa mỗi giới tính về
đúng vị trí của nó và được bổ túc bởi những gì còn thiếu; người nữ với sự hiện
diện nồng ấm đưa họ lại vào con người bên trong của họ, một ngọn lửa tỏa ra ánh
sáng;
[150] người nam phóng tôi ra bên
ngoài trong sự khám phá và chinh phục, một ngọn lửa thiên về lý trí. Một người
cha và người chồng tốt lành thật quân bình trong vai trò của mình. Ông phải luôn
là chính mình, sống con người thật của mình. Ông là một người biết kính trọng
người khác và được người khác kính trọng, yêu thương cách vô vị lợi, có lý trí
và đang tìm cách giữ lại lý trí là hào quang của đàn ông và của loài người. Khi
người con ra khỏi vòng tay sự sống và tình yêu của người mẹ, nó gặp hình ảnh
người cha đầy lý trí và nó khám phá ra gia đình (Marcello Bernardi).
[151] Cả hai bổ túc cho nhau
trong việc quảng đại trao ban và khiêm tốn lãnh nhận, yêu hết mình và hết lòng
trân trọng vì được yêu (Paule Salomon).
[152]

“Chúng ta phải yêu mến
người lân cận, hoặc vì người đó tốt, hoặc có thể để người đó trở nên tốt”
(Thánh Augustinô).
[153]

Vợ chồng bổ túc cho nhau chính là trở nên người lân cận của nhau theo gương người
Samaritanô nhân hậu
[154] khi cùng nâng niu tình yêu
và sự sống trước khi cái chết đến xóa sạch tất cả trừ tình yêu: Yêu thương,
nhân ái, dịu dàng, thận trọng trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Trở nên người
lân cận của nhau có nghĩa là sống hiệp thông sâu xa, thông cảm, hiểu nhau, chia
sẻ mọi biến cố vui buồn của nhau, chân thành với nhau và tôn trọng nhau, ở bên
nhau ngay cả trong sự thinh lặng như một cơ hội cho sự hiệp thông và truyền
thông những điều chân thực nhất.
[155]
Một khi có “trái tim biết nhìn” như người Samaritanô nhân hậu, vợ chồng
nhìn ra nơi nào cần tình yêu và hoạt động dựa theo đó.
[156]

3. Có tự do để tình yêu thăng hoa

“Luận lý của tình yêu
luôn là luận lý của tự do”.
[157] Có một khoảng trống tự do là điều cần thiết để tình yêu thăng hoa
và sự sống triển nở:
“Tự do đồng nghĩa với
trách nhiệm. Đó là lý do vì sao nhiều người e ngại tự do” (George Bernhard
Shaw).
[158]

Tình yêu nơi Ba Ngôi chí thánh vừa là nguồn cội vừa là mô phỏng cho tình yêu
nhân loại. Một Thiên Chúa duy nhất có Ba Ngôi, đồng bản thể, không chia nhau một
thần tính duy nhất, nhưng mỗi Ngôi Vị đều là Thiên Chúa trọn vẹn, mỗi Ngôi Vị
có một khoảng không gian để phân biệt, để tự do nhưng vẫn chung nhau trọn vẹn
trong tình yêu.
[159] Chính khi thông phần bản
tính Thiên Chúa, con người được trở nên vĩ đại vì tràn đầy yêu thương, hiệp
thông và tự do: “Điều vĩ đại nhất được ban tặng cho con người là được chọn lựa,
là tự do” (Søren Kierkegaard”.
[160]

“Khi người ta ý thức
được cái khoảng cách vô tận luôn luôn hiện diện giữa hai con người thì một đời
sống tuyệt diệu ở bên cạnh nhau là điều có thể xảy ra được. Như thế đôi bên phải
học để yêu cái khoảng cách phân cách họ và nhờ khoảng cách này mà mỗi bên nhận
ra người kia trọn vẹn, nổi bật trên bầu trời” (Rilke).
[161]
Tình yêu vợ chồng cần đạt tới đỉnh cao của sự tự do, khi có một không gian độc
lập lành mạnh: Khi mỗi người khám phá ra Thiên Chúa mới thực sự là chủ nhân và
là trung tâm điểm của cuộc sống người kia. Để rồi từ khước tham vọng chiếm hữu
nơi thầm kín riêng tư và bí mật nhất của người mình yêu, đừng yêu cầu người kia
phải hoàn toàn thỏa mãn các nhu cầu của mình. Như Dietrich Bonhoeffer đã diễn tả
rất hay rằng: “Hành trình tâm linh của mỗi người cần giúp người ấy đạt được sự
‘vỡ mộng’ về người kia, để thôi mong chờ từ người kia điều gì đó vốn chỉ thuộc
về tình yêu Thiên Chúa. Điều này đòi hỏi một sự lột trần nội tâm. Khoảng không
gian độc quyền mà mỗi người trong vợ chồng dành riêng cho tương quan cá vị của
họ với Thiên Chúa, không chỉ cho phép chữa lành các thương tích của đời sống
chung, mà nó còn cho phép tìm được trong tình yêu Thiên Chúa ý nghĩa đời mình.
Mỗi ngày chúng ta cần khẩn cầu sự tác động của Chúa Thánh Thần để sự tự do nội
tâm này có thể xảy ra”.
[162]

Chứng tự yêu mình thái quá – libido narcissique khiến người ta chỉ nhìn thấy bản thân mình, khao
khát thỏa mãn cho nhu cầu của mình, từ chối quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Não
trạng đó dễ tìm đến một lối sống độc lập khiến cho lý tưởng chung sống trong đời
hôn nhân đổ vỡ.
[163] Quan hệ yêu đương là một
cuộc phiêu lưu cá nhân vượt qua
dục năng
tự mê
của mỗi người để đến với người kia. Nơi địa đạo của đời sống yêu
thương, mỗi người phải chạm trán với ước muốn của người khác, phải kháng cự lại
cơn lốc cũ mèm của tiếng sét ái tình hay phải lòng phải dạ để hoàn thành ước muốn
được kết hợp trọn vẹn giữa tình yêu, tình dục và hạnh phúc. Huyền nhiệm nằm ở
chỗ:
“Tình yêu giống như cầm thủy ngân
trong tay, nếu mở tay ra thì nó còn; nếu nắm chặt tay lại thì nó tuột”.
[164] Hy vọng tìm được tình yêu
nơi phần nửa còn lại nơi người kia luôn luôn là cảm nhận hão huyền vì sớm hay
muộn con người bị lột mặt nạ.
[165]

“Yêu là cho những gì
mình không có, đến với người mình chẳng thích” (Jacques Lacan).
Một khi
không có sự hiệp thông trong tình yêu, con người bị dồn nén để sống trong giả tạo.
Trong bầu khí đó, sự thiêng liêng hóa của cảm xúc và dục tính cá nhân bị đánh bật
khỏi võ đài yêu thương. Tiến thoái lưỡng nan khi vừa toan tính thôn tính người
kia vừa không muốn người ấy là tù nhân của chính mình. Freud và Schopenhauer ví
họ như những con nhím tìm cách xích lại khi lạnh cóng
(cần tình yêu) nhưng những chiếc lông sắc nhọn (tính ái kỷ, ảo tưởng về sự hoàn hảo, tính mau phai nhạt của tình yêu,
sợ hãi cái chết)
đẩy chúng xa nhau. Theo Freud, Carl Jung và Scott Peck,
chính khi tìm cách tống khứ đau khổ
(cô
đơn, phản bội)
và tư tưởng đau khổ đã khiến nó quay trở lại để gây khủng hoảng
và thử thách cho quan hệ yêu thương: “Để tránh né những đau khổ thường tình,
người ta luôn luôn gặp rối loạn tâm thần. Người lành mạnh tâm thần là người phụng
sự cho sự thật bằng mọi giá. Tâm bệnh xảy ra khi ý muốn của ý thức cá nhân người
ta quyết liệt tẩy chay ý muốn của Thiên Chúa, ý muốn thuộc vô thức của mình”.

[166] Não trạng siêu nhân của
Nietzsche khiến con người khinh bỉ tha thứ cho chính mình và cho tha nhân, các
vết thương vì thế không dễ lành lặn.
“Ghét
linh hồn mình, chính là không thể tha thứ cho chính mình, là không hiện hữu, mà
cũng chẳng thể là mình. Một người bị bó buộc nhìn ra ngoài lòng thương xót dịu
dàng của Thiên Chúa chỉ rơi vào sự thù hận và khinh miệt chính mình thôi”
(Bernanos).
[167]

“Tình yêu không thể bị
ép buộc” (Boris Pasternak).
[168] Lời rao giảng về Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá luôn
luôn mang tính thời vì nó có sức đem lại chữa lành cho con người.
[169] Khi lòng thù hận đã ngấm
sâu vào tận xương tủy người ta, nó xóa nhòa mọi kỷ niệm đẹp thời yêu thương, nó
cắn rứt làm cho con người không thể tha thứ, trước là cho chính mình, sau là
cho tha nhân. Giải pháp được 80% phụ nữ chọn lựa là cắt đứt mọi mối quan hệ.
Lòng kiêu hãnh trỗi dậy nơi
nạn nhân
để đánh bật
phạm nhân khỏi võ đài yêu
thương, để xây dựng cho mình một tượng đài cô lập đầy tự mãn đang nở rộ trong
văn hóa hưởng thụ và chủ nghĩa cá nhân. Phải lên án, phải gán cái xấu lên người
khác, phải đẩy trách nhiệm lên người khác để tránh nhận ra cái tôi hung bạo,
thù hằn và đau khổ của mình. “Làm người là nhận trách nhiệm” (Saint-Exupéry).
[170] Khi từ chối trách nhiệm,
người ta ngấm ngầm từ chối sự sống. Khi cưỡng bức tình yêu để sống trong sợ
hãi, khi rời khỏi sự hiệp thông trong gia đình,
[171]
con người dâng cho vị thần của sự kiêu hãnh những của lễ là chính sự cô đơn
khép kín, một mối tình mới đầy ô nhơ, những đứa con mang đầy tổn thương từ cha
mẹ, xa rời đời sống cộng đoàn.
“Tình yêu
không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn
liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1Ga
4,18).

4. Món quà của sự không hoàn hảo

Muốn sống hiệp thông và yêu thương, con người phải có một ý
chí mạnh mẽ và một trái tim rộng mở để cưỡng lại chủ nghĩa hoàn hảo.
[172] Khi mong muốn cho mọi sự
trở nên hoàn hảo, con người trở nên vong thân, cảm thấy hổ thẹn, sợ hãi, tổn
thương và hèn nhát. Củng cố sự hiệp thông hay sống yêu thương chính là can đảm
để đi ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự hoàn hảo để sống sáng tạo, để đem lại phẩm
giá cho chính mình và tha nhân, để dừng làm tổn thương tha nhân, để thôi tạo ra
mâu thuẫn, để thêm tin tưởng nhau. Khởi đầu nhìn nhận mình bất toàn sẽ giúp mỗi
người can đảm
[173] nói lời xin lỗi, để động
lòng trắc ẩn,
[174] để yêu lấy bản thân mình,
để cai việc
nghiện kiểm soát (an addiction to control) mọi chuyện kể
cả trong tình yêu, để tự nhủ:
“Đúng vậy,
mình chưa hoàn hảo và dễ bị tổn thương, đôi khi còn sợ hãi nhiều thứ, nhưng điều
đó không phủ nhận được sự thật rằng mình dũng cảm, xứng đáng được yêu thương và
đón nhận”.
[175]

“Tình yêu không đi
cùng với quyền lực tối thượng”
(Sophie
Schlumberger).
[176] Tình yêu thương hay sự hiệp
thông là điều quan trọng nhất trong cuộc đời. Với một trái tim rộng mở trước những
phán xét và tự phán xét, mỗi cá nhân cần sẵn sàng chiến đấu chống lại chủ nghĩa
hoàn hảo bằng cách tin rằng mình xứng đáng được yêu thương, quan tâm, lắng
nghe, tôn trọng và chấp nhận ngay trong thời điểm hiện tại, không cần điều kiện
này nọ, chẳng đợi lúc này lúc khác: Tình yêu thương hay sự hiệp thông được nuôi
dưỡng không chỉ bằng việc trân trọng những ưu điểm nơi bản thân hay nơi tha
nhân mà còn bằng một tấm lòng vượt qua sự hổ thẹn, trách móc, dày vò trước sự bất
toàn của bản thân và tha nhân. Đây là bước khởi đầu để con người đi từ cảm xúc
đến hành động đầy trách nhiệm trong việc sống yêu thương hay củng cố sự hiệp
thông.

“Khiêm nhường chống lại thất vọng”.[177]
Muốn sống, yêu thương và hòa nhập vào đời với tất cả sự tự tin và với tất cả
trái tim, người ta phải can đảm nhìn thẳng vào những bất toàn, khó khăn, sợ hãi
cũng như việc dễ tổn thương của mình và của tha nhân với một lòng trắc ẩn và
khiêm nhường sâu xa. Loại bỏ dần chủ nghĩa hoàn hảo vừa là cách tập yêu thương
và bớt dày vò bản thân. Thất vọng là tên gọi khác của sự hổ thẹn hay xấu hổ về
sự bất toàn của mình, về chuyện không suôn sẻ trong công việc, về cả chuyện
thành công vượt ngoài ý muốn, về nỗi giằng xé trong nội tâm. Nó gặm nhấm giá trị,
nhân cách và lý tưởng sống của một người vì nó không cho người đó sống con người
thật của mình, làm những điều mình cần làm (Margaret Young). Vượt qua nỗi thất
vọng hay hổ thẹn là một nghệ thuật sống con người thật của mình. Nó giúp con
người vượt qua căng thẳng, trầm cảm, kiệt sức, lực bất tòng tâm, rối loạn thần
kinh thực vật, nghiện ngập, giận dữ, trách móc, oán giận, bóng tối, đau đớn
không thể giải tỏa và nhất là dẹp bỏ ý định trở thành mẫu người hoàn hảo (Anna
Quindlen) để sống con người thật của mình và để bắt đầu có được niềm vui, lòng
biết ơn, lanh lẹ và thoải mái. Chúng là chất keo cần thiết của sự hiệp thông,
là chất xúc tác cho tình yêu, đức tin, niềm hy vọng và hạnh phúc thăng hoa.

Chủ nghĩa hoàn hảo thay vì làm phát huy tiềm năng bản thân
thì nó lại bóp nghẹt khả năng phát triển bản thân khi loay hoay để làm hài lòng
người khác, để hoàn hảo hóa mọi việc, để làm việc từ thiện cho tha nhân thay vì
lo cải thiện nơi bản thân. Bóng tối của chủ nghĩa hoàn hảo làm tê liệt cuộc sống
ở mọi cấp độ, mọi bậc sống và mọi giai đoạn sống. Một khi nó trở thành chất gây
nghiện cho niềm tin của mình, nó khiến ta tự hủy hoại mình khi mở đường cho lối
tư duy theo cảm xúc và viển vông, chăm chút vẻ bên ngoài sao cho thật tuyệt, lời
nói sao cho thật màu mè, tự trách vì
“Mình
không đủ giỏi”,
tự dày vò về điều nằm ngoài tầm kiểm soát, tiền hậu bất nhất,
cuộc sống hai mặt, lời nói hai ý.
[178]

Nhu cầu lớn nhất của
thời đại chúng ta là dọn sạch lượng rác khổng lồ về tinh thần và cảm xúc đang
làm rối tung tâm trí chúng ta
”.[179]
Việc cải thiện bản thân bắt đầu từ việc quên đi chuyện ganh đua thiệt hơn, dẹp
bỏ lối sống đầy lo âu để sống sáng tạo, biết ơn, điềm tĩnh, an nhiên và hạnh
phúc hơn. Hãy dành thời gian để vui chơi, nghỉ ngơi và quên đi địa vị xã hội
như một cái mác đang đè bẹp cái tôi, không cho cá nhân sống con người thật một
cách thoải mái. Hiệu quả công việc không phải là thước đo giá trị con người.
Công việc không thể che đậy con người thật và đem lại sự chữa lành vết thương của
bản thân. Sự an nhiên giúp
dọn vệ sinh tâm
hồn (cleaning for the soul)
có được một không gian mở ra cho những cảm nhận,
suy nghĩ, mơ ước và tự chất vấn sao cho thông thoáng, quân bình, khách quan và
thánh thiện hơn. Một khi thôi nghi ngờ bản thân và cởi trói khỏi não trạng quan
trọng hóa và đầy quá khích người ta có khả năng để thích làm những việc ý
nghĩa, giàu tính nhân văn, gia tăng khả năng riêng, bớt căng thẳng vô độ. Lãng
phí tiềm năng bản thân khiến đời ta khốn cùng vì phá vỡ mất mối hiệp thông giữa
ta với người khác và với Thiên Chúa. Một tâm hồn thông thoáng khiến con người dễ
dàng sám hối để bật dậy
Lời khẩn nguyện với
Chúa Giêsu – Oratio ad Iesum:
“Lạy Đức
Giêsu Kitô, là Con Thiên Chúa, và là Chúa chúng con, xin thương xót chúng con
là những kẻ tội lỗi”
.[180]

“Người không biết hài
hước giống như cỗ xe không có nhíp. Nó liên tục bị xóc mỗi khi vấp phải hòn đá
nhỏ trên đường” (Henry Ward Beecher).
[181]
Tính hài hước giúp con người có khả năng cười vào cái tôi lôi thôi của mình
cách thoải mái, để thôi quan trọng hóa cái tôi, để yêu và sống vui giây phút hiện
tại hơn là nuối tiếc quá khứ hay chờ đợi thiên đường ở tương lai. Một tiềm năng
chi phối chất lượng sống của con người chính là chỉ số đo lường cảm xúc (EQ =
Emotional Quotient).
[182] Chỉ số này cao đồng nghĩa
với việc họ sống rất giàu tình cảm, luôn thấu hiểu, giúp đỡ mọi người xung
quanh, được nhiều người yêu mến và tôn trọng, có khả năng thành công trong cuộc
sống. Tiếng cười, âm nhạc và nhảy múa tạo ra mối dây liên kết về mặt cảm xúc và
tâm hồn. Óc hài hước có thể làm giảm buồn phiền, lo âu, sợ hãi, đau khổ, kiêu
ngạo và tuyệt vọng; những gốc rễ dễ dẫn đến tự sát.
[183]
Vì thế Mahatma Gandhi viết: “
Óc hài hước
là cây gậy giữ thăng bằng khi chúng ta đang bước đi trên sợi dây cuộc đời. Nếu
chúng tôi không có óc hài hước thì chắc chắn chúng tôi đã tự sát lâu rồi”.

Thánh Phanxicô Assisi khuyên:
“Hãy
trả lại sự buồn phiền cho ma quỷ, bởi vì chỉ có ma quỷ mới có đủ lý do để buồn
phiền”.
[184]

Hãy luôn vui mừng
trong Chúa. Tôi
nhắc lại, hãy vui lên
!” (Pl 4,4). Các thánh vui tươi và rất
biết đùa, biết tỏa ra tinh thần tích cực và đầy hy vọng. Đó là hoa trái của
lòng bác ái, của sự hiệp thông với người mình yêu, của việc sống trong Chúa
Thánh Thần (Rm 14,17). Thời đại của Chúa Giêsu mà hiện ta đang sống trong đó phải
là thời đại của niềm vui, “niềm vui của Đức Chúa là thành trì bảo vệ anh
em” (Nkm 8,10). Đức Maria đã hớn hở vui mừng về niềm vui mà Đức Giêsu mang
đến (Lc 1,47), niềm vui trong Chúa Thánh Thần (Lc 13,17). Và Đức Giêsu muốn cho
niềm vui đó ngự trị nơi các môn đệ của Người (Ga 15,11). Chính niềm vui mà Đức
Giêsu mang đến, niềm vui biết mình được yêu thương có thể che lấp những lúc khó
khăn, những thời khắc của thập giá để có lòng vững tâm, thanh thản, hy vọng và
no thoả tinh thần. Niềm vui Kitô giáo thường được đi kèm với một cảm thức hài
hước. Niềm vui trong tình hiệp thông thì quảng đại trao ban (Cv 20,35) và
vui vẻ dâng hiến (2Cr 9,7). Hài hước là
một ơn ban đến từ Thiên Chúa. Đức thánh cha Phanxicô đề nghị cầu nguyện xin ơn
hài hước qua kinh được cho là của Thánh Tôma More, một vị thánh cũng khá hài hước:
[185]

“Lạy Chúa, xin ban cho
con trí lĩnh hội, và cả điều để lĩnh hội. Xin cho con thân thể khỏe mạnh, và
tính hài hước tốt đẹp cần thiết để giữ sức khỏe đó. Xin cho con một linh hồn
đơn sơ biết quý tất cả những gì tốt đẹp, đừng dễ dàng sợ hãi trước mặt sự dữ,
nhưng biết tìm cách đặt lại mọi chuyện vào đúng chỗ của nó. Xin cho con một
linh hồn không buồn chán, không càu nhàu, thở dài hay than van, cũng không căng
thẳng quá độ, vì những điều này ngăn cản một chuyện: Con chính là ‘con’. Lạy
Chúa, xin cho con một trí hài hước tốt đẹp. Xin cho con ơn có thể nói một câu
đùa để tìm được chút vui vẻ trong đời, và có thể chia sẻ niềm vui đó với người
khác”.
[186]

Thần học gia Tin Lành Peter Berger cho rằng Thiên Chúa là
tình yêu, và hài hước là một phần quan trọng không thể chối cãi của tình yêu.
Hài hước cùng với bông đùa lành mạnh và trêu chọc vui vẻ là một phần dầu mỡ
giúp chúng ta duy trì mối quan hệ lâu dài, bất chấp sự quen thuộc quá mức, tổn
thương, thất vọng, và nhàm chán không thể tránh khỏi thế nào cũng xuất hiện
trong hầu hết mọi mối tình. Hài hước giúp tình yêu ổn định. Vì thế hài hước là
một phần bẩm sinh của tình yêu, là một phần phẩm tính của Thiên Chúa.
[187] Thiên Chúa không chỉ có óc
hài hước, mà còn là người tạo ra hài hước, thì hài hước là một phẩm chất quan
trọng trong sự toàn vẹn và thánh thiện.
[188]
Mẹ thánh Têrêsa Avila sống nhiệm nhặt, thánh thiện, nhưng không kém hài hước,
bông đùa mang tính xây dựng. Khi đi lập nhà ở Cid Campeador, cây cầu ở sông
Arlazon đã bị lũ cuốn trôi mẹ vẫn vui vẻ và tin tưởng nói: “Chúa đã giúp ta
băng qua vũng sình, Ngài cũng sẽ giúp ta vượt qua con sông này”. Tay trong tay
mẹ dẫn đầu các nữ tu xuống dòng nước lạnh như đá. Giữa dòng sông mẹ bị trượt
chân, dòng nước cuốn mẹ đi nhưng mẹ không la, không sợ chỉ cầu xin Chúa: “Làm sao
Chúa đặt nhiều khó khăn như thế trên đường chúng con đi?”. Rồi Chúa hiện ra và
trả lời:
“Đó là cách Ta thích xử với các
bạn của Ta”.
Mẹ Têrêsa không do dự đáp lại với óc trào phúng cố hữu của
mình:
“Lạy Chúa, thảo nào Chúa chỉ có ít
bạn!”.
[189]

Tác giả Brené Brown cho rằng rủi ro đánh mất chính mình nguy hiểm hơn rất nhiều so với rủi ro để cho người khác nhìn thấy con người thật
bên trong của mình
. Vì thế cần tự nhủ trước khi đi ngủ vào mỗi đêm: “Phải, mình không hoàn hảo, dễ tổn thương và
đôi khi sợ hãi, nhưng điều đó không thay đổi sự thật rằng mình cũng dũng cảm, xứng
đáng được yêu thương và đón nhận”.
Một ngày mới bắt đầu hãy nguyện cầu: “Lạy Chúa, xin ban ơn cứu độ, lạy Chúa, xin
thương giúp thành công” (Tv 118, 25)
và đừng quên nguyện thêm: “Chuyện đời tôi quan trọng vì bản thân tôi cần
được xem trọng. Tôi sẽ bước vào đời với cảm giác tự do khi không còn giả vờ như
mọi chuyện đều ổn và mong muốn mọi sự phải hoàn hảo”.
Chính ở khởi đầu nhìn
nhận sự bất toàn của bản thân mà con người bắt đầu nghiêng từ đời sống nhân bản
sang đời sống tâm linh, đời sống hướng về Thiên Chúa và về đời sống vĩnh cửu.
[190] Với đức tin, con người có
được lòng dũng cảm để chạm vào thế giới bí ẩn, để vượt qua nỗi sợ hãi đang diễn
ra nơi nội tâm hay nơi thế giới để có thể thư giãn và cầu nguyện:
“Lạy Chúa, xin cho con sự bình yên trong tâm
hồn để chấp nhận những gì con không thể thay đổi, xin cho con sức mạnh để thay
đổi những điều có thể, và sự sáng suốt để nhận ra sự khác biệt. Amen!”

V. HIỆP THÔNG TRONG THINH LẶNG

1. Thinh lặng để sống hiệp thông

Yêu thương ở trình độ ban đầu, việc đối thoại là một hành động
yêu thương cần thiết để tạo nên sự gần gũi thân tình, tình yêu sâu đậm và hâm
nóng tình yêu. Đối thoại là một cách thức ưu việt và thiết yếu để sống, bày tỏ
và làm triển nở tình yêu và sự hiệp thông trong đời sống hôn nhân và gia đình.
Muốn đối thoại thực sự cần lắng nghe trong thinh lặng, tôn trọng, hiền lành,
kiên nhẫn, quan tâm và tin tưởng. Thinh lặng là một thái độ diễn tả tình yêu và
thúc đẩy sự đối thoại đích thực.
[191]
Yêu thương ở trình độ trưởng thành, cuộc gặp gỡ trực tiếp mặt đối mặt, mắt nhìn
mắt trong một cuộc đối thoại thinh lặng trong tình yêu thường diễn tả nhiều hơn
lời nói vì: “Toàn bộ đời sống thực sự là cuộc gặp gỡ” (Martin Buber).
[192] Thinh lặng trong tình yêu
này phản chiếu tình yêu Thiên Chúa.
[193]
Đừng quên rằng vì đức ái, sự tôn trọng chân lý, và tránh gây gương xấu thường
đòi buộc mỗi người phải thinh lặng nghiêm ngặt trước những điều bất khả xâm phạm,
trước người không có quyền được biết.
[194]
Tập thinh lặng để yêu thương là cách để con người nhớ đến lời răn dạy của Đức
Giêsu:
“Tôi nói cho các người hay: đến
Ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói” (Mt
12,36).

Vợ chồng có thể học yêu thương và hiệp thông trong thinh lặng
nơi Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá.
[195]
Bằng sự thinh lặng, Mẹ đang giữ hương thơm cho hy tế dâng lên Thiên Chúa, Mẹ
đang cùng Con Mẹ mạc khải về Chúa Cha,
[196]
Mẹ thông phần vào cuộc khổ nạn của Đức Kitô.
[197]
Ngay tại tiệc cưới tại Cana, để có được tình yêu và sự hiệp thông trọn vẹn, để
tiệc cưới đó trở nên dấu chỉ xác nhận tính thiện hảo của hôn nhân và là dấu chỉ
hữu hiệu về sự hiện diện của Đức Kitô nơi hôn nhân,
[198]
đó là kết quả của sự thinh lặng của Đức Maria trước lời thách thức của Đức
Giêsu khi mà giờ của Người chưa tới (Ga 2,1-11), giờ mà Đức Maria sẽ thinh lặng
ở mức tuyệt đỉnh khi đứng gần thập giá của Đức Giêsu. Sự thinh lặng đó khiến
Thiên Chúa có thể nghe thấy ước vọng chính đáng của tình yêu và sự hiệp thông.
Sự thinh lặng đó đi ngay vào trọng tâm của sự vâng phục, của ơn cứu độ:
“Ngài có bảo gì hãy làm theo” (Ga 2,5). Sự thinh lặng của Ðức Maria
là cuộc chiến đấu để đi qua cửa hẹp, để tiến tới sự sống.
[199]

“Vấn đề của thinh lặng
là một vấn đề thuộc tình yêu” (Thomas Merton).
[200]
Không có thinh lặng,
chúng ta bị tước mất mầu nhiệm, chỉ còn sợ hãi, buồn bã và cô đơn. Đã đến lúc
nên tìm lại sự thinh lặng! Bài học của tình yêu và sự hiệp thông vì thế là bài
học thinh lặng trong đức tin, đức cậy và đức mến để chống lại sự độc tôn của một
thế giới ồn ào đang làm phân rã con người, gia đình và xã hội. Lộ trình con người
phải đi để đạt được sự thinh lặng và phải chiêm ngưỡng trong thinh lặng chính
Thập giá (crux) – Bánh Thánh (Hostia)
– Đức Trinh Nữ Maria (Virgo)
. Thinh lặng của Đức Giêsu là thinh lặng của sự
khó nghèo, khiêm hạ, từ bỏ và hủy mình ra không (Pl 2,7). Thế giới ồn ào bên
ngoài và nơi nội tâm lôi kéo con người chạy theo ý riêng của mình,
[201] khao khát đến cháy bỏng được
quý trọng, yêu mến, ngưỡng mộ, tôn vinh, tung hô, ưu đãi, tham vấn, chấp nhận,
thấu hiểu, viếng thăm, thành công… Ngấm ngầm dưới khao khát đó lại là nỗi sợ
hãi bị hạ nhục, kinh chê, khiển trách, vu khống, lãng quên, nhạo báng, nghi ngờ,
chửi rủa, ruồng bỏ, từ chối, thất bại, nghèo hèn… Ồn ào là căn bệnh phá vỡ sự
hiệp thông vì nó không cho con người hiện hữu ngay nơi trái tim mình. Trái lại,
đức ái sinh ra từ thinh lặng. Đức ái phát xuất từ một trái tim thinh lặng có khả
năng lắng nghe, thấu hiểu và đón nhận. Thinh lặng là tình bạn, là tình yêu, là
hài hòa và bình an. Thinh lặng và bình an có cùng một nhịp đập của trái tim.
Thinh lặng là điều kiện của tình yêu và nó dẫn đến tình yêu. Tình yêu chỉ được
diễn tả một cách trọn vẹn khi khước từ lời nói, sự ồn ào, sự kích động và phấn
khích. Cách diễn tả mãnh liệt nhất của tình yêu được thể hiện trong cái chết âm
thầm và hoàn toàn dâng hiến:
“Để hiệp
thông thực sự với một người khác, tôi phải biết người ấy, biết ở lại bên người ấy
trong thinh lặng, lắng nghe người ấy, ngắm nhìn người ấy với tình yêu mến. Tình
yêu đích thực và tình bằng hữu luôn sinh động nhờ biết trao nhau những ánh mắt,
những khoảnh khắc thinh lặng thẳm sâu, tế nhị, đầy lòng tôn trọng và thờ kính,
để cuộc gặp gỡ mang lại một kinh nghiệm sâu sắc cho cá nhân”
.[202] Thinh lặng thôi thúc con
người lắng nghe lẫn nhau, thôi thúc ước muốn được hiệp thông và yêu thương. Bao
lâu còn có những tình nhân trên mặt đất, thì họ sẽ còn tìm cách gặp nhau riêng,
và trong cuộc gặp gỡ của họ, luôn luôn có sự thinh lặng. Thinh lặng là một sự hối
cải tâm hồn, sự thống hối nội tâm khi phải xua đi “cái tôi” thích chiếm hữu, thống
trị, kiêu căng, đam mê, phù phiếm, vô bổ, hời hợt, quý tộc, ta đây, cha chú,
ham muốn. Hối cải trước hết là công trình của ân sủng của Thiên Chúa

sự thinh lặng cần thiết để con người nhìn vào nội tâm mình.
[203]
Luyện tập thinh lặng đòi hỏi ở lại trong sự hiện diện của Thiên Chúa, là không
ngừng quay về với Thiên Chúa. Thiên Chúa ẩn mình trong sự thinh lặng và tỏ mình
ra nơi cõi lòng thinh lặng của ta. Thiên Chúa ngự ở nơi sâu thẳm nhất của con
người, trong những vùng thinh lặng của bản thể con người. Cô tịch là trạng thái
tốt nhất để nghe được cái thinh lặng của Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa được
che giấu trong sự thinh lặng, trong đau khổ, trong cái chết, trong thân xác bị
hành hạ và bầm dập của Đức Giêsu đang chết dần trên cây thập tự. Sự thinh lặng
của Thiên Chúa chỉ có thể hiểu được nơi viễn cảnh về cuộc sống vĩnh cửu. Bổn phận
của mỗi người là phải sẵn sàng trước Thiên Chúa thinh lặng, đang chờ đợi chúng
ta trong sa mạc sâu thẳm của nội tâm chúng ta, bằng cách gạt bỏ sự náo động ồn
ào. Càng trốn tránh sự thinh lặng, chúng ta càng xa rời Thiên Chúa. Thinh lặng
để đi vào trong tinh thần cầu nguyện. Thật khó tìm được một người thánh thiện
mà lại nói nhiều. Cầu nguyện và thinh lặng sẽ cứu thế gian. Những vĩ nhân hiếm
khi thốt ra những lời nói vô ích. Kẻ nào giữ thinh lặng vì tình yêu Chúa, người
ấy sẽ chuyên chăm nguyện ngắm, đọc sách thiêng liêng và cầu nguyện trước Thánh
Thể. Trong thinh lặng, Thiên Chúa đã công bố Ngôi Lời của Ngài nơi tâm hồn.
Trong thinh lặng, chúng ta nhìn ngắm Thiên Chúa và để cho Chúa nhìn ngắm chúng
ta. Thinh lặng là một kỷ luật thánh thiện, là người canh gác của Chúa Thánh Thần.
[204]

Vì không có gia đình nào là hoàn hảo và kiện toàn ngay từ đầu
nên đòi hỏi một sự phát triển tiệm tiến khả năng yêu thương và hiệp thông của
mình. Sự phát triển đó được kín múc từ sự hiệp thông viên mãn của Thiên Chúa Ba
Ngôi, từ sự kết hợp kỳ diệu giữa Đức Kitô và Hội thánh của Người, từ cộng đoàn
kiều diễm là Gia đình Nadarét, và từ tình huynh đệ vô tì tích giữa các thánh
trên thiên quốc. Chỉ trong sự hiệp thông đó mà con người không đánh mất niềm hi
vọng vì nhiều giới hạn trong gia đình như bạo lực, khép kín và chia rẽ. Mẫu
gương của gia đình Nadarét đem lại bài học về về thinh lặng nội tâm, về sự hiệp
thông trong tình yêu, về tính cách linh thánh bất khả xâm phạm của gia đình, về
sự cao cả của lao động khi hướng đến cứu cánh đích thực là Thiên Chúa.
[205]

2. Hiệp thông trong mầu nhiệm Vượt Qua

Gia đình thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ còn gọi là Nguyễn Huy Diệu
(1804 – 1838) đã để lại cho các gia đình Kitô hữu tấm gương sáng ngời về sự hiệp
thông ở khía cạnh tự nhiên, tinh thần và siêu nhiên. Thánh Micae Mỹ nhận thấy bố
vợ, là thánh Antôn Nguyễn Tiến Đích tuổi già sức yếu không chịu nổi tra tấn nên
ngài tự nguyện chịu đòn thay. Chàng rể nói với bố vợ: 
“Cha đã tuổi cao sức yếu, chẳng sống được bao lâu nữa, nếu không chết
vì đạo thì cũng chết vì bệnh, nhưng nếu tử đạo, sẽ làm vinh danh Thiên Chúa và
được hạnh phúc Thiên Đàng. Cha đừng luyến tiếc sống thêm ít ngày, con đây còn
khỏe mạnh, đời còn dài, vợ trẻ với đàn con thơ dại thật đáng yêu đáng quý,
nhưng con tin Thiên Chúa sẽ lo liệu thật tốt đẹp cho chúng. Hơn nữa khi cha con
ta được lên Thiên Đàng, sẽ cầu bầu trước nhan Thiên Chúa thì có ích hơn cho cả
gia đình dòng tộc. Cha đừng lo về những hình khổ phải chịu, con sẽ chịu đòn
thay cho cha hết thảy. Cha hãy can đảm làm chứng và sẵn lòng chết vì yêu mến
Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết vì chúng ta”
. Cha nào con nấy, mẹ nào con nấy.[206] Cô Mỹ (12 tuổi), con gái của
thánh Lý Mỹ khi vào thăm cha cũng khuyến khích: 
“Xin cha can đảm chịu chết vì Chúa”. Cậu Tường (9 tuổi) nhờ nhắn với
cha: 
“Cha đừng lo cho chúng con, cha
hãy an tâm vững lòng xưng đạo và chịu chết vì đạo”
. Chồng hỏi vợ: “Tôi được phúc tử vì đạo thì mẹ Mỹ có bằng lòng
chăng?”
Vợ đáp: “Thầy mình có được
phúc trọng ấy thì tôi bằng lòng lắm”.
Vợ của thánh Lý Mỹ cũng khích lệ: “Vợ con ai mà chẳng thương, nhưng ông hãy hy
sinh vác Thánh giá vì Chúa. Hãy trung thành đến cùng, đừng lo nghĩ đến mẹ con
tôi, Chúa sẽ quan phòng tất cả”. Ông nghẹn ngào đáp lời vợ: “Lời bà khuyên
nhủ đốt thêm lửa kính mến Chúa trong lòng tôi, bà đem con về săn sóc chúng thay
tôi, sớm tối cầu nguyện ngày sau gặp bà và các con chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu
nơi quê thật là nước Thiên Đàng”. Bà Lý Mỹ kể rằng: “Gia đình tôi sống
trong hòa thuận yêu thương. Ông Micae chuyên chăm đạo đức, dự lễ hằng ngày, nếu
vợ con hay người giúp việc bận rộn không đi lễ được, ông bắt phải đọc kinh
chung và nghe sách thiêng liêng để suy niệm. Ông xưng tội nhiều lần trong năm,
mỗi lần ông kỹ lưỡng xét mình hai ngày trước. Mùa chay, ông giữ chay các ngày
thứ tư và thứ sáu. Ông không uống rượu, không đánh bạc hay to tiếng với ai bao
giờ”.
[207]

Gia đình thánh Lý Mỹ
kín múc tình yêu và sự hiệp thông sâu xa nơi mầu nhiệm Vượt Qua, tức là mầu nhiệm
thập giá và sự sống lại của Chúa Kitô.
[208] Chính mầu nhiệm này đã ban cho từng thành
viên trong gia đình có một lòng can đảm và đức tin vững vàng, khi phải đương đầu
với cơn thử thách cam go, giao tranh giữa sự sống và cái chết. Khi phải từ bỏ mạng
sống mình, để chứng tỏ đức tin, đó là một cuộc chiến không hề đơn giản. Thực tế,
nhiều người đã bỏ cuộc hay chạy trốn.

Sự thanh thản nhẹ
nhàng toát ra từ những mẩu đối thoại của từng thành viên trong gia đình làm cho
người ta hiểu được gia đình này có sự hiện diện của Mẹ Maria, Mẹ đã từng âm thầm
lặng lẽ trước những khổ đau cùng cực nhất. Dưới chân thập giá, Mẹ đã hiến dâng
người Con duy nhất lên Chúa Cha làm hy tế cứu độ nhân loại (Ga 19,25-27). Dưới
chân thập giá, Mẹ đã sinh ra một nhân loại mới bằng nỗi đau xé lòng trong mầu
nhiệm tử nạn của Con (LG 58). Giờ đây, Mẹ đồng hành với từng người con là em của
Chúa Kitô trên con đường đức tin, hướng dẫn và trợ giúp cho đến khi tất cả những
người được tuyển chọn bước vào vinh quang vĩnh cửu trên quê trời (LG 62). Đó là
trách nhiệm Mẹ đã được chính Chúa Giêsu giao phó. Mọi người Kitô hữu đều được Mẹ
yêu thương hướng dẫn; vấn đề là họ có mở rộng tâm hồn đón nhận sự trợ giúp của
Mẹ hay không?

Như thế, gia đình
thánh Lý Mỹ là mẫu gương hiệp thông trong đức tin, mở rộng tâm hồn đón Chúa vào
trong từng gia đình Kitô hữu mỗi ngày. Như một cây trồng quý hiếm, sự hiệp
thông trong đức tin cần được chăm sóc, bảo vệ kỹ lưỡng. Đức tin cũng cần được
kiên trì chăm sóc mỗi ngày, qua đời sống bí tích, cùng nhau cầu nguyện và chiêm
ngắm mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô. Nhất là nhiệt thành tôn kính Mẹ Thiên
Chúa, Mẹ có bổn phận và sẵn sàng trợ giúp bảo vệ đoàn con trong hành trình
dương thế, cho đến khi tất cả tiến vào vinh quang vĩnh cửu. Ước gì với sự trợ
giúp từ trên cao, các gia đình Kitô hữu biết mở rộng lòng đón nhận những ân sủng
và sự nâng đỡ mà Thiên Chúa sẵn sàng ban tặng để có thể hưởng được hạnh phúc
viên mãn trong mái ấm gia đình tràn đầy tình yêu Thiên Chúa và tha nhân.

“Lạy Thánh Gia
Nadarét, xin cũng làm cho các gia đình chúng con trở thành nhà của hiệp thông
và cầu nguyện, trở thành trường học đích thực của Tin mừng và những Hội thánh tại
gia nhỏ bé”.
[209]

SÁCH THAM KHẢO

Alain Houziaux (chủ biên), Tại Sao Có Quá Nhiều Thất Bại trong Tình Yêu? – Pourquoi Tant D’Échecs
en Amour?;
bản dịch tiếng Việt: Xavier Trần Thiên An, Antôn & Đuốc Sáng
– 2007.

Đtc Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate – Bác ái trong chân lý, 29/06/2009. Bản dịch của
Ủy ban Giáo lý Đức tin – Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Ban Mục vụ Gia đình Giáo phận Đà Lạt, Kho báu cho gia đình công giáo thời nay – Handbook for today’s Catholic
family;
dịch và biên soạn: Lm.
Giuse Đinh Quang Vinh;
NXB đồng nai –
2019.

Đtc Bênêđictô Xvi,
Thông điệp Deus Caritas Est – Thiên Chúa là Tình Yêu (DCE);
bản dịch của Ủy
ban Giáo lý Đức tin – Hội đồng Giám mục Việt Nam. Ngày 25/12/2005.

Bernard Ducruet, O.S.B.; Cuộc
chiến đấu thiêng liêng theo thánh Biển Đức
, An Nguyễn chuyển ngữ, Antôn và
Đuốc Sáng.

Bruno Ferrero, Cha mẹ
hài lòng với phương pháp giáo dục của thánh Don Bosco,
Lm. Giuse Đinh Quang
Vinh chuyển ngữ, NXB Hồng Đức, 2016.

Brené Brown, Ph. D., Món
quà của sự không hoàn hảo (The gifts of imperfection) – Sao phải cố là người
khác, trong khi bạn có thể là chính mình?,
dịch giả: Uông Xuân Vy, Vi Thảo
Nguyên, Nxb Phụ Nữ, 2014.

Đhy Carlo Maria Martini, Tình
yêu và gia đình – The New Wine – Christian Witness of the Family
; chuyển ngữ:
Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên O.Cist.; NXB Phương Đông – Nhà sách Hoàng Mai. Tr.
16.

Đtc Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio – Về những bổn phận của gia đình Kitô hữu (FC),
22/11/1981, bản dịch của linh mục Augustinô Nguyễn Văn Dụ, Rôma – 2001.

Đtc Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae – Tin Mừng về Sự Sống (EV). Ngày 25/3/1995.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Công Đồng Vaticanô II, Nhà xuất bản Tôn
Giáo, Hà Nội – 2012.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Catechismus Catholicae Ecclesiae – Sách Giáo
Lý của Hội Thánh Công Giáo (SGLC),
NXB Tôn Giáo, Hà Nội – 2011.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Docat, Phải làm gì? NXB Tôn Giáo 2017.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm chủ
biên,
Hạnh các Thánh Tử Đạo Việt Nam,
NXB Tôn Giáo – 2008

Jean Monbourquette, Làm
sao tha thứ? – Comment pardonner?
, Lm. Trần Minh Huy chuyển ngữ; NXB
Novalis – Tủ sách Cho một tương lai tốt đẹp hơn – 2001.

John LaBriola, Cuộc
chiến thiêng liêng
, người dịch: Lm. Minh Anh (Gp. Huế), NXB Hồng Đức – Hà Nội,
2013.

Đgm Matthêu Nguyễn Văn Khôi, Tính hài hước và sự thánh thiện theo Đức Phanxicô trong Tông huấn
Gaudete et Exsultate;
(Khoá Thường huấn linh mục Giáo phận Qui Nhơn,
18-21/9/2018).

Đhy Marc Ouellet, P.S.S., Phụ Nữ dưới Ánh Sáng của Mầu Nhiệm Ba Ngôi và của Hội Thánh với Đặc
Tính Maria;
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính; Hiệu đính: Lm.
Phanxicô Xaviê. Nguyễn Hai Tính, S.J.; Logos – Suy tư Thần học và Mục vụ số 06
suy tư chủ đề
“Người trẻ và gia đình”.
NXB Tôn Giáo – Hà Nội, 2021, tr. 59-91.

Nancy Van Pelt, Để hôn
nhân hoàn hảo,
Đỗ Hải Yến – AKT dịch,
Nxb Hồng Đức, 2013, tr. 23, 36, 72, 85, 89, 95, 151.

Đtc Phanxicô, Tông huấn Amoris
Laetitia – Niềm vui của Tình yêu
, 19/03/2016, bản dịch của Văn phòng Hội đồng
Giám mục Việt Nam, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Tp. HCM – 2016. (viết tắt AL)

Đtc Phanxicô, Tông huấn Evangelii
Gaudium – Niềm vui Tin Mừng (EG)
, 24/11/2013; Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển
ngữ.

Đtc Phanxicô, Tông huấn
Gaudete et Exsultate – Vui mừng và hân hoan (GE);
19/03/2018.

Đtc Phanxicô, Tông thư
Patris Corde – Trái tim của người cha.
Ban hành 08/12/2020.

Đhy Raniero Cantalamessa, Đức Maria tấm gương cho Giáo Hội, Athanasie Nguyễn Quốc Lâm dịch;
NXB Tôn Giáo – Hà Nội, 2022.

Đhy Robert Sarah, Nicolas Dias, Sức mạnh của sự thinh lặng – chống lại sự độc tôn của một thế giới ồn
ào
; Dòng Phaolô thành Chartres Sài Gòn dịch; Sept-Fons hiệu đính; NXB Đông
Phương – 2019.

Robyn D. Walser. Ph.D, Darrah Westrup, Ph. D; Đôi lứa biết quan tâm lẫn nhau. Người dịch:
Phạm Như Lan. NXB Văn Hóa Thông Tin, TP. HCM – 2013.

Ron Rolheiser,O.M.I.; Óc Hài Hước của Thiên Chúa; https://ronrolheiser.com/oc-hai-huoc-cua-thien-chua/   ngày 13/5/2023.

Stêphanô Huỳnh Trụ, Tìm
Hiểu Từ Vựng Công Giáo
, bài “Hợp nhất,
hiệp nhất”
, bài “Hợp thông, hiệp
thông”;
NXB Tôn Giáo, Hà Nội – 2021; tr. 245; tr. 252.

Tammy Strobel, Hạnh
phúc không đắt như bạn nghĩ;
Dịch giả: Uông Xuân Vy – Trần Đăng Khoa. NXB
Phụ Nữ, TP. HCM – 2013.

Đhy Timothy M. Dolan, Priests
for the third millennium – Linh mục cho ngàn năm thứ ba,
người dịch: Lm.
Micae Trần Đình Quảng, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2009.



[1] Docat số 114.

[2] FC 18.

[3] GS 48.

[4] Mt 19,6.

[5] AL 196-198.

[6] LG 11; AA 11.

[7] Ga 15,13.

[8] AL 106-110.

[9] AL 111-113.

[10] Robyn D.
Walser. Ph.D, Darrah Westrup, Ph. D;
Đôi
lứa biết quan tâm lẫn nhau.
Người dịch: Phạm Như Lan. NXB Văn Hóa Thông
Tin, TP. HCM – 2013. Tr. 207.

[11] Ga 17,21.

[12] FC 57.

[13] DCE 14.

[14] AL 61-66.

[15] AL 314-316.

[16] FC 18-30.

[17] Docat số 109.

[18] 1Ga 4,8.

[19] GS 12.

[20] FC 11.

[21] “Khái niệm hiệp
thông (koinonia; κοινωνία)
nằm ở trọng tâm của việc Hội Thánh hiểu biết về
chính mình, với tư cách là mầu nhiệm của sự hợp nhất cá vị của mỗi người với
Thiên Chúa Ba Ngôi và với tha nhân, được khởi sự nhờ đức tin, được hình thành
như một thực tại trong Hội Thánh trần thế, và được hướng đến sự viên mãn cánh
chung trong Hội Thánh thiên quốc” (Bộ Giáo Lý Đức Tin, Thư gởi các giám mục
Công giáo về một vài khía cạnh của Hội Thánh hiệu như sự hiệp thông,
28/05/1992; số 3); Communio = com + unus; Hiệp = chung nhau; thông = cùng nhau
hòa hợp. Hiệp thông
= chung sức với nhau; hợp thông =
đoàn kết thành một; các bên hòa hợp với nhau. Nghĩa hợp thông và hợp nhất thì mạnh
hơn hiệp thông và hợp thông.

[22] Evangelii
Gaudium,
274.

[23] SGLC 1469. Tội lỗi làm suy yếu hay cắt đứt sự hiệp
thông huynh đệ. Bí tích Thống Hối canh tân hoặc tái tạo sự hiệp thông đó. Theo
nghĩa này, bí tích không những chữa lành hối nhân, làm cho họ được hiệp thông lại
với Hội Thánh, mà còn có một hiệu quả mang lại sức sống cho đời sống Hội Thánh,
vốn đã phải chịu đựng tội lỗi của một trong các chi thể của mình. Tội nhân, một
khi đã được phục hồi hay được củng cố trong mầu nhiệm các thánh thông công, thì
được tăng cường nhờ sự hiệp thông các gia sản thiêng liêng giữa mọi chi thể sống
động của Thân Thể Đức Kitô, hoặc còn đang trên đường lữ hành, hoặc đã ở nơi quê
hương thiên quốc: “Nhưng phải thêm rằng việc giao hoà này với Thiên Chúa như còn
dẫn tới những sự giao hoà khác, để hàn gắn nhiều đổ vỡ khác do tội gây ra: khi
được tha thứ, hối nhân giao hoà với chính mình nơi phần thâm sâu nhất của hữu
thể mình, nơi người đó tìm lại được sự thật nội tại của mình; hối nhân được
giao hoà với anh em mà một cách nào đó họ đã xúc phạm và gây thương tổn; hối
nhân được giao hoà với Hội Thánh; hối nhân được giao hoà với tất cả các thụ tạo”
(Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn
Reconciliatio
et paenitentia
, số 31).

[24] SGLC 1484.

[25] Đhy Carlo Maria
Martini,
Tình yêu và gia đình –
The New Wine – Christian Witness of the Family
; chuyển ngữ: Lm. Montfort Phạm
Quốc Huyên O.Cist.; NXB Phương Đông – Nhà sách Hoàng Mai. Tr. 16.

[26] LG 11; FC 21; SGLC 1655-1658; 2204.

[27] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 70;
SGLC 2790; Rm 8,28-30.

[28] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 89.

[29] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 9.

[30] GS 19; SGLC 27.

[31] SGLC 232-237; 1107.

[32] SGLC 238 – 260.

[33] SGLC 369-373; 383; YouCat 64; SGLC 368.

[34] AL 82.

[35] Bênêđictô XVI,
Thông điệp
Caritas in Veritate – Bác ái
trong chân lý,
29/06/2009. Số 28.

[36] Phanxicô, Bài giảng trong Thánh Lễ tại Puebla de Los Angeles (28/01/1979), 2: AAS 71 (1979), 184.

[37] AL 11.

[38] SGLC 2205.

[39] AL 71-75; 120.

[40] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 9.

[41] Mulieris Dignitatem, số 6-8.

[42] Nguyên văn:
“Hence the three ways of loving in the Trinity that express three Persons
absolutely distinct and correlative (tương quan; tương liên): paternal Love,
filial Love, and I dare qualify the Third as nuptial Love because it’s not only
a two-way but a three-way reciprocity, the Spirit being a distinct Third that
proceeds in the modality of fecundity from reciprocity, something that gives it
essentially and personal ly the right of citizenship in the triple and divine
correlation of Love”.

[43] Cardinal Marc
Ouellet, P.S.S.,
Woman in The
light of The Trinity and of Mary-Church,
web: https://zenit.org/2020/03/05/feature-cardinal
-ouellet-on-woman-in-the-light-of-the-trinity-and-of-mary-church/

[12/03/2023].
Đhy Marc Ouellet, P.S.S.,
Phụ Nữ dưới Ánh Sáng của Mầu Nhiệm Ba
Ngôi và của Hội Thánh với Đặc Tính Maria;
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn
Minh Chính; Hiệu đính: Lm. Phanxicô Xaviê. Nguyễn Hai Tính, S.J.;
Logos – Suy tư Thần học và Mục vụ số 06
suy tư chủ đề
“Người trẻ và gia đình”.
NXB Tôn Giáo – Hà Nội, 2021, tr. 59-91.

[44] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 85.

[45] Bruno Ferrero,
Sdb.,
Cha mẹ hài lòng với phương
pháp giáo dục của thánh Don
Bosco,
Lm. Giuse Đinh Quang Vinh chuyển ngữ, NXB Hồng Đức, 2016. Tr. 16.

[46] SGLC 2205.

[47] HĐGM Việt Nam,
Thư Mục vụ năm 2008, số 15.

[48] Docat số 126.

[49] FC 18-19.

[50] HĐGM Việt Nam,
Thư Mục vụ năm 2008, số 7.

[51] Docat số 58.

[52] DCE 16-18.

[53] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr.
94-95.

[54] Humanae vitae,
số 8.

[55] SGLC 1602-1605.

[56] FC 20; Sự thật và ý nghĩa tính dục, số 28-30.

[57] SGLC 1606-1608.

[58] Docat số 51.

[59] SGLC 1440; 1445.

[60] SGLC 761.

[61] SGLC 2204–2206.

[62] Alain Houziaux,
Tại Sao Có Quá Nhiều Thất Bại trong Tình
Yêu? – Pourquoi Tant D’Échecs en Amour?;
bản dịch tiếng Việt: Xavier Trần
Thiên An, Antôn & Đuốc Sáng – 2007; tr. 74.

[63] SGLC 56; 2554.

[64] Gabriele
Amorth,
Nuovi Racconti Di Un Esorcista – Truyện mới kể của một nhà trừ tà,
Edizioni Dehoniane Roma, 10/1992, Tr. 213- 222; Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
chuyển ngữ dưới tựa đề Quyền Năng Đức Mẹ Maria Đối Với Ma Quỷ, trang web:
http://dongkhiettam.com/vi/news/cau-nguyen-hang-ngay-voi-me-khiet-tam/quyen-nang-duc-me-maria-doi-voi-ma-quy-1039.html
[19/05/2023]. Video
Padre Amorth: il diavolo e l’esorcista. 10 interviste:
https://youtube.com/clip/UgkxG3erb5Dtc_z6-EjG5XsBZvNCjWllt6Z6
[19/05/2023].

[65] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 45.

[66] GS 13; SGLC 401.

[67] Mt 19,3-9.

[68] Lc 15,11-32.

[69] Kh 21,4; AL 19-22.

[70] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 108.

[71] SGLC 1502;
1505.

[72] SGLC 1658.

[73] DCE 21.

[74] SGLC 761- 762; 1896.

[75] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 88.

[76] DCE 5.

[77] Gioan Phaolô II, Thđ. Evangelium Vitae (25/3/1995), 23: AAS 87 (1995), 427.

[78] AL 61.

[79] Alain Houziaux,
Sách đã dẫn. Tr. 57.

[80] GE 128.

[81] HV, 13: AAS 60 (1968), 489.

[82] GS, 49. Giáo luật 1061.

[83] SGLC 2351.

[84] Nancy Van Pelt,
Để Hôn Nhân Hoàn Hảo, tr. 55.

[85] Docat – Phải
làm gì?
Số 8.

[86] Ep 5,22.28.

[87] Mt 25,40.

[88] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 8.

[89] DCE, 5.

[90] DCE, 7; AL 153-157.

[91] Alain Houziaux,
Sách đã dẫn. Tr. 83-86.

[92] SGLC 2741.

[93] Đức thánh cha Phanxicô đề cập đến Dòng nữ Xitô, thuộc
đan viện Port-Royal-des-Champs. Dưới thời Jacqueline-Marie-Angélique Arnauld,
còn được gọi là Mẹ Angélique (8/9/1591 – 6/8/1661) làm Đan viện mẫu, Đan viện
Port-Royal đã trở thành một trung tâm của Jansenism. Về Mẹ Agnès và các đan sĩ
của bà, Paul Philippe Hardouin de Beaumont de Péréfixe (1606 – 1671), Tổng Giám
mục Paris, người tham gia vào cuộc chiến chống thuyết Jansen đã nói:
“Các nữ tu này trong sạch như thiên thần,
nhưng kiêu hãnh như ác quỷ – These sisters are as pure as angels, but as proud
as devils”
(Fournet, Pierre
Auguste.
“Arnauld.” The Catholic Encyclopedia Vol. 1. New
York: Robert Appleton Company, 1907. 19 May 2018). Tu viện Port-Royal đã bị giải
tán bởi
Sắc lệnh Unigenitus của Đức
thánh cha Clement XI năm 1713. Tu viện sau đó bị san bằng và hiện nay là Bệnh
viện Port-Royal, bệnh viện phụ sản hàng đầu của Paris.

[94] Dị thuyết do Giám mục Cornelius Jansen (1585-1638), tỏ
ra bi quan về bản tính con người đã hư hỏng do tội nguyên tổ; chỉ những ai được
tiền định mới được cứu; sống nghiêm ngặt về luân lý là dấu hiệu được tiền định.
Antonio Casini, S.J. đấu tranh chống lại thuyết Jansenius trong một bài tranh
luận về tình trạng bản chất thuần tuý (1687-1755). Nền luân lý của thánh
Alphongsô de Liguori đã đánh bại nền luân lý Jansenius.

[95] ĐTC Phanxicô,
Tất cả chúng ta đều là tội nhân và cần sự
tha thứ,
buổi tiếp kiến sáng thứ tư 10/04/2019.

[96] ĐTC Phanxicô,
Tài liệu đã dẫn, ngày 10/04/2019.

[97] Gc 4,16.

[98] John LaBriola, Cuộc chiến thiêng liêng, người dịch: Lm.
Minh Anh, NXB Hồng Đức – Hà Nội, 2013; tr. 65; 88.

[99] Đhy f.x. Nguyễn
Văn Thuận,
Năm chiếc bánh và hai
con cá,
Chương 2.

[100] Docat 142.

[101] SGLC 1022.

[102] John LaBriola,
Cuộc chiến thiêng liêng, người dịch:
Lm. Minh Anh (Gp. Huế), NXB Hồng Đức – Hà Nội, 2013. Tr. 219.

[103] Bernard
Ducruet, O.S.B.;
Cuộc chiến đấu
thiêng liêng theo thánh Biển Đức,
An Nguyễn chuyển ngữ, Antôn và Đuốc Sáng.

[104] Docat số 20.

[105] Ga 5,42-44.

[106] Alain Houziaux,
Sách đã dẫn. Tr. 82.

[107] Hội đồng Giám mục Việt Nam – Ủy ban Giáo lý Đức tin, Docat, Phải làm gì? Số 95. SGLC 1883-1885.

[108] Alain Houziaux,
Sách đã dẫn. Tr. 77-80.

[109] John LaBriola,
Sách đã dẫn. Tr. 90.

[110] Rm 2,28; 2Cr 12,10.

[111] SGLC 2725.

[112] SGLC 2559.

[113] SGLC 2015.

[114] John LaBriola,
Sách đã dẫn. Tr. 395.

[115] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 55.

[116] SGLC 1829; 1803–1845.

[117] SGLC 2343.

[118] SGLC 1697.

[119] Docat số 125.

[120] Timothy M.
Dolan,
Priests for the third millennium
– Linh mục cho ngàn năm thứ ba,
người dịch: Lm. Micae Trần Đình Quảng, NXB
Tôn giáo, Hà Nội 2009. Tr.57.

[121] Ban MVGĐ GP Đà
Lạt,
Kho báu cho gia đình công
giáo thời nay – Handbook for today’s Catholic family;
dịch và biên soạn: Lm. Giuse Đinh Quang Vinh; NXB đồng nai – 2019. Tr. 27 – 38.

[122] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr.
49-50.

[123] Bruno Ferrero,
Sách đã dẫn. Tr. 55.

[124] Docat 126.

[125] Docat số 116.

[126] Docat số 117.

[127] AL 226.

[128] FC 36.

[129] Docat số 88.

[130] Docat số 37.

[131] Docat số 115.

[132] American
Psychiatry Association (2013).
Diagnostic
and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM-5) (ấn bản 5).
Washington,
DC and London: American Psychiatric Publishing. Tr. 451 – 460.

[133] Tammy Strobel,
Hạnh phúc không đắt như bạn nghĩ; Dịch
giả: Uông Xuân Vy – Trần Đăng Khoa. NXB Phụ Nữ, TP. HCM – 2013. Tr. 76.

[134] Bruno Ferrero,
Sách đã dẫn. Tr. 24.

[135] Docat số 55.

[136] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 65.

[137] AL 100.

[138] DCE 7.

[139] DCE 4.

[140] GE 128.

[141] DCE 7.

[142] DCE 7.

[143] Robyn D.
Walser. Ph.D, Darrah Westrup, Ph. D;
Sách
đã dẫn.
Tr. 43; Ga 15,13.

[144] Tin tưởng: Confiance = cum (với) + fiancé (hôn phu).

[145] Docat số 103.

[146] Đtc Phanxicô, Tông thư Patris Corde – Trái tim của người
cha.
Ban hành 08/12/2020. Số 7.

[147] Alain Houziaux, Sách đã dẫn. Tr. 24

[148] Khi Edison được 24 tuổi, nhu cầu có một mái ấm gia
đình chợt đến trong đầu. Ông đến trước cô thư ký Mary Stilwell 16 tuổi, dịu
dàng, thanh mảnh và nói: “Này em, anh không muốn phí thì giờ nói những lời
vô ích. Anh xin hỏi em một câu rất ngắn gọn và rõ ràng: Em có muốn làm vợ anh
không?”. Trước sự sửng sốt không thể tin vào tai mình của cô gái, Edison
nhắc lại lời cầu hôn cấp tốc của mình: “Ý em thế nào? Em nhận lời anh nhé?
Anh xin em hãy suy nghĩ trong năm phút!” Mary đỏ mặt, đáp lý nhí:
“Năm phút cơ à? Thế thì lâu quá! Vâng em nhận lời”. Mary đã sinh cho ông
ba người con, rồi qua đời sau 13 năm chung sống. Hai năm sau khi Mary qua đời,
Edison gặp và cưới cô Mina Miller, 20 tuổi. Khi Edison gặp gỡ Mina Miller, ông
lập tức bị hút hồn bởi khuôn mặt khả ái của nàng. Dù trăm công nghìn việc ông
không ngừng nghĩ về tình yêu mới của đời mình. Edison đã dạy Mina cách sử dụng
mã moóc để họ có thể trao đổi một cách bí mật, bằng cách gõ nhịp vào tay nhau
khi có người xung quanh. Một ngày, Edison đã cầu hôn Mina bằng nhịp gõ mã moóc,
và Mina cũng trả lời theo cách này. Họ làm đám cưới năm 1886, khi Edison 39 tuổi.

[149] “The beginning
of love is to let those we love be perfectly themselves, and not to twist them
to fit our own image. Otherwise we love only the reflection of ourselves we
find in them – Khởi đầu của tình yêu là để cho những người chúng ta yêu được là
chính họ một cách hoàn hảo, chứ không phải vặn vẹo họ để phù hợp với hình ảnh của
chúng ta. Nếu không, chúng ta chỉ yêu thích tìm kiếm hình ảnh phản chiếu của chính
mình nơi họ” (Thomas Merton).

[150] “I consider
that in dialectics I am the equal of Socrates. As to women, I agree that each
has three or four souls, but none of them a reasoning one” (Henryk
Sienkiewicz).

[151] Bruno Ferrero, Sách đã dẫn. Tr.
29.

[152] Alain Houziaux,
Sách đã dẫn. Tr. 44.

[153] Docat 49.

[154] Lc 10,29-37; SGLC 1465.

[155] Đhy Carlo Maria
Martini,
Sách đã dẫn. Tr. 102.

[156] DCE 31.

[157] Đtc Phanxicô,
Tông thư Patris Corde. Số 7.

[158] Docat số 56.

[159] SGLC 253

[160] Docat số 106.

[161] Alain Houziaux,
Sách đã dẫn. Tr. 68.

[162] AL 320

[163] AL 39

[164] Philippe
Julien,
Người rời cha, người rời mẹ
– Tu quitteras ton père et ta mère;
Aubier – 2000.

[165] Platon, Buổi tiệc – Le Banquet.

[166] Morgan Scott
Peck,
The Road less traveled – Con đường chẳng mấy ai
đi
, Lm. Giuse Lê Công Đức chuyển dịch, quyển 1, đề mục: Ân sủng và tâm bệnh: Thần thoại Orestes.

[167] Jean
Monbourquette,
Làm sao tha thứ? –
Comment pardonner? ,
Lm. Trần Minh Huy chuyển ngữ; NXB Novalis – Tủ sách
Cho một tương lai tốt đẹp hơn – 2001. Tr. 162.171.

[168] Hội đồng Giám mục Việt Nam – Ủy ban Giáo lý Đức tin, Docat – Phải làm gì? Số 226; Đhy Carlo Maria Martini, Sách đã dẫn. Tr. 75.

[169] 1Cr 2,2.

[170] Saint-Exupéry,
Cõi người ta – Terre des Homme, Bùi
Giáng dịch, NXB Văn nghệ, TP HCM – 2005,. Tr. 57- 58.

[171] SGLC 2218

[172] Brené Brown,
PH.D., L.M.S.W.;
Món quà của sự không
hoàn hảo –
The gifts of imperfection
– Sao phải cố là người khác, trong khi bạn có thể là chính mình?
Dịch giả:
Uông Xuân Vy và Vi Thảo Nguyên. NXB Phụ Nữ, TP.HCM – 2010; Tr. 20.

[173] Courage =
coraggio = cor (trái tim) + aggio (premium; praemere: lấy)
= nói ra suy
nghĩ trong đầu, bày tỏ cảm xúc trong lòng.

[174] Compassion =
com + pati (mang, nỗi khổ)
= chia sẻ nỗi đau.

[175] Brené Brown, PH.D., L.M.S.W.; Sách đã dẫn.
Tr. 169.

[176] Alain Houziaux,
Sách đã dẫn. Tr. 82.

[177] Thomas Merton,
Hạt giống chiêm niệm, Phong Trào Văn
Hóa xuất bản, Sài Gòn – 1966, tr. 145.

[178] SGLC 2338; 2468; 2505.

[179] Thomas Merton, “Conjectures of a Guilty Bystander – Những
phỏng đoán của một người ngoài cuộc có tội”,
Image 2009. Tr. 72.

[180] SGLC 235; 2626;
2667; 2680.

[181] Robyn D.
Walser. Ph.D, Darrah Westrup, Ph. D;
Sách
đã dẫn
; Tr. 119.

[182] Kinh điển Hy Lạp gợi ý tình yêu có sáu yếu tố: Eros –
sự hấp dẫn về tình cảm và tình dục; mania – ám ảnh về tình cảm; asteismos – vui
thú và vui đùa; storge – quan tâm và lo lắng; pragma – thu xếp và bố trí thực tế;
philia – tình bạn; và agape – vị tha (Ronald Rolheiser).

[183] SGLC 2280–2283.

[184] Đgm Matthêu
Nguyễn Văn Khôi,
Tính hài hước và
sự thánh thiện theo Đức Phanxicô trong Tông huấn Gaudete et Exsultate;
(Khoá
Thường huấn linh mục Giáo phận Qui Nhơn, 18-21/9/2018).

[185] Tôma More bị kết tội phản quốc và vua ra lệnh xử chém
đầu. Nơi pháp trường, ngài vẫn vui vẻ chào các quan và hẹn gặp họ ở chốn vĩnh hằng.
Ngài lấy một đồng tiền vàng đưa cho tên đao phủ và nói:
“Làm ơn nhắm cho trúng nhé vì cổ của tôi hơi ngắn”. Hắn bịt mắt
ngài và nói:
“Không cần đâu!”. Rồi
ngài bình tĩnh ngả đầu trên thớt, lấy tay vuốt ngược chòm râu lên, mỉm cười và
nói:
“Chòm râu của tôi có tội gì với vua
đâu mà bị xử trảm”.
Ngài bị chém đầu ngày 6/7/1535 khi được 57 tuổi.

[186] Đtc Phanxicô,
Tông huấn “Gaudete et Exsultate” – Vui mừng
và hân hoan;
19/03/2018. Số 122-128.

[187] “A sense of humour is the only divine quality of man –
Khiếu hài hước là phẩm tính siêu phàm duy nhất của con người
(Arthur
Schopenhauer)

[188] Ron
Rolheiser,O.M.I.;
Óc Hài Hước của
Thiên Chúa
; https://ronrolheiser.com/oc-hai-huoc-cua-thien-chua/
[13/5/2023].

[189] René
Fülöp-Miller,
Thánh nữ Têrêxa Avila – Vị thánh hay xuất thần; Đặng
Xuân Thành dịch; NXB Thuận Hóa, Huế – 1999. Tr. 114-115.

[190] SGLC 1812–1829.

[191] SGLC 136-139.

[192] Docat số 37.

[193] AL 12.

[194] SGLC 2489; 2490.

[195] LG 61; RM 18

[196] SGLC 516.

[197] SGLC 1368; Đhy
Raniero Cantalamessa,
Đức Maria tấm
gương cho Giáo Hội,
Athanasie Nguyễn Quốc Lâm dịch; NXB Tôn Giáo – Hà Nội.
tr. 145. 174-178. 202; SGLC 1108.

[198] SGLC 1613.

[199] Đhy Raniero Cantalamessa,
Sách đã dẫn. Tr. 157-158.

[200] Thomas Merton, Dấu lạ tiên tri Giôna – The Sign of Jonas.

[201] “Đối với tôi,
dường như chúng ta không thể làm nên điều gì tốt đẹp khi chúng ta chỉ chiều
theo ý riêng mình”
(Thánh Têrêsa
Lisieux;
Docat số 17).

[202] ĐTC Biển Đức
XVI,
bài giảng lễ Corpus Domini,
ngày 7/6/2021.

[203] SGLC 337; 400; 591; 821; 1430; 1453; 1600-1608; 2730.

[204] Đhy Robert
Sarah, Nicolas Dias,
Sức mạnh của
sự thinh lặng – chống lại sự độc tôn của một thế giới ồn ào
; Dòng Phaolô
thành Chartres Sài Gòn dịch; Sept-Fons hiệu đính; NXB Đông Phương – 2019. Các
trang: 221; 153; 80; 177; 28-29; 43; 54; 106; 172-173; 348; 356;126; 369; 416;
305; 37; 377; 379; 113; 159; 416; 293; 68; 419; 40; 356; 132.

[205] Thánh Phaolô
VI,
Trích huấn từ tại Nhà thờ Truyền tin ở Nadarét. Chúa Nhật ngày
5/1/1964; SGLC 34; 450.

[206] Thấy con trai đi bộ về, không thấy xe máy đâu, bà mẹ
hốt hoảng hỏi: – Xe máy của con đâu rồi? – Dạ! Con cho bạn gái mượn ạ. – Đúng
là cha nào con nấy. – Sao mẹ lại nói như vậy? – Thì trước bố mày cũng hay cho mẹ
mượn như vậy mà.

[207] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm chủ biên, Hạnh các Thánh Tử Đạo
Việt Nam, NXB Tôn Giáo – 2008; Tr. 174-176.
https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thanh-micae-nguyen-huy-my-tu-dao-ngay-12-thang-8-nam-1838-33044
[15/05/2023].

[208] SGLC 571; 1260.

[209] AL 325.

Bài viết cùng chủ đề: